Chương 3: CHƯƠNG 2 - KỲ DUYÊN XỨ TUYẾT
CHƯƠNG 2 - KỲ DUYÊN XỨ TUYẾT
Để có thể hiểu được những diễn tiến đã xảy ra trong cuộc sống, đôi khi chúng ta phải quay trở lại đi tìm nguyên nhân của những lý do đã khiến đời sống của chúng ta trở nên như thế.
Đôi khi chỉ một cái nhìn, một cử chỉ hay một câu nói, cũng có thể thay đổi hẳn cuộc đời chúng ta.
Cuộc đời của tôi đã bước vào một khúc quanh quan trọng bởi một biến cố dường như vô tình... Tôi là một tu sĩ Phật giáo trụ trì một ngôi chùa nhỏ gần Kandy, Sri Lanka. Trên đường tham dự Đại hội Phật giáo thế giới nhóm họp tại Darjeeling(2), tôi đã gặp một trận bão tuyết nên phải tạm trú trong một ngôi chùa dưới chân rặng Himalaya, vì tuyết đã phủ kín con đường giữa Nepal và Tây Tạng.
(2) Một thành phố ở Sikkim, bang Tây Bengal, Ấn Độ, thuộc khu vực địa lý tự nhiên phía Đông dãy Himalaya. Thành phố này nằm trong vùng biên giới giữa Ấn Độ với các nước Nepal, miền Nam Tây Tạng, Bhutan và Bangladesh.
Đối với một người vừa chân ướt chân ráo đến thành phố xa lạ này, thì trận bão tuyết quả là một điều bất hạnh. Vì không ý thức được cái lạnh cắt da cắt thịt của vùng đất nằm trên độ cao vài ngàn mét, nên tôi chỉ mang theo một tấm áo cà sa mỏng manh, chỉ đủ che thân chứ không thể ngăn nổi cái lạnh. Tôi ngồi run rẩy thầm nghĩ tại sao mới hôm trước còn thoải mái thiền định dưới ánh nắng ấm áp Sri Lanka, mà hôm nay lại phải co ro trong cái lạnh kinh hồn của xứ tuyết như thế này?
Từ trước đến nay, Tây Tạng không hề gợi cho tôi một hình ảnh gì tốt đẹp. Đối với tôi, xứ này chỉ là một miền man di mọi rợ, không có gì đáng để thăm viếng. Đời sống của tôi đã gắn liền vào nếp sống thanh bạch trong ngôi chùa nhỏ bé nằm giữa Kandy và Nuwara Elisa. Tôi không có một lý do gì lại qua Tây Tạng nếu không có “duyên” với xứ này.
Năm đó, tôi nhận được thiệp mời của Hội Phật giáo thế giới nhóm họp tại Darjeeling. Trong thiệp, ông chủ tịch đã kèm theo một lá thư riêng mời tôi diễn thuyết về một đề tài do chính tôi lựa chọn. Sau một lúc do dự, tôi quyết định nhận lời vì nghĩ rằng đây là một dịp may hiếm có để một tăng sĩ như tôi có dịp mang giáo pháp nguyên thủy của đức Phật ra giảng dạy cho những tăng sĩ không được diễm phúc học hỏi những chân lý ấy. Lạt Ma giáo hay Phật giáo Tây Tạng đối với tôi chỉ là một biến thể của Phật giáo, một nhánh đã gần như đứt khỏi nhành cây những giáo pháp cao quý nguyên thủy của đức Thế Tôn và thay đổi thành một hình thức mê tín dị đoan, thờ ma cúng quỷ gì đó.
Phật giáo thường được chia làm Nam Tông và Bắc Tông (còn gọi là Tiểu Thừa và Đại Thừa). Đối với các tăng sĩ Nam Tông như tôi, thì nhóm Bắc Tông trải qua bao thế kỷ đã “cởi mở” nhiều quá nên không còn “nguyên thủy” nữa, và đã đến lúc họ cần phải trở về nguồn gốc.
Bởi lý do đó, tôi đã thu xếp tham dự kỳ đại hội. Và giờ đây, tôi ngồi co ro giữa những hình vẽ lạ lùng, những biểu tượng huyền bí trong một tu viện Lạt Ma giáo, chờ đợi cơn bão tan. Vì ngôn ngữ bất đồng, không thể nói chuyện với ai, nên tôi chỉ đành ngồi bó gối, im lặng chờ đợi và chờ đợi...
Lúc đầu, vị Lạt Ma trụ trì mời tôi tạm trú trong căn phòng riêng của ông tại hậu liêu, nhưng tôi không thể ngủ trong căn phòng quá chật hẹp với chiếc lò sưởi đốt bằng phân khô ấy. Tôi không chịu được mùi khói nồng nặc cũng như các hương liệu mà ông bỏ vào lò sưởi, nên sau một đêm mất ngủ tôi đã xin phép được ngủ trên chánh điện, là nơi không khí thoáng đãng hơn...
Chánh điện là một gian phòng khá lớn với những hàng cột gỗ sơn son thếp vàng. Chính giữa là một pho tượng đức Di Lặc to lớn cao gần đến trần nhà. Ngoài ra còn có hàng trăm pho tượng Bồ Tát bày dọc hai bên. Bốn vách tường đều có vẽ những bức tranh nổi, mà dưới quan niệm của một tu sĩ Nam Tông như tôi, thì nó không thể chấp nhận được tại một chánh điện trang nghiêm như vậy. Tôi không hiểu tại sao người ta lại có thể vẽ những vị Phật trang nghiêm bên cạnh những hình ma quỷ nhe nanh múa vuốt, các vị Bồ Tát hào quang chói lọi đứng cạnh những quái vật như giao long, thuồng luồng bay lượn lung tung. Rải rác đó đây là những hình ảnh nam nữ giao hợp và những đám mây ngũ sắc có những bí hiệu lạ lùng.
Trong hoàn cảnh ngôn ngữ bất đồng, không thể nói chuyện cũng như hỏi ai, tôi chỉ biết yên lặng chờ đợi cho cơn bão tan đi, nhưng suốt mấy ngày bão vẫn không tan mà còn tăng thêm phần dữ dội. Gió lạnh gầm rú bên ngoài và tuyết càng ngày càng rơi nhiều, phủ kín mặt đất.
Chỗ tôi nằm là một góc khuất trong chánh điện, ẩn sau một cột trụ lớn. Từ đây, tôi vẫn có thể nhìn thấy pho tượng đức Di Lặc lung linh mờ ảo dưới ánh sáng lập lòe của những ngọn đèn dầu.
Mặc dù chánh điện thoáng đãng hơn hậu liêu rất nhiều, nhưng vì lạ chỗ nên tôi vẫn không thể ngủ được. Tôi nằm yên cố dỗ giấc ngủ, và đang trằn trọc thì một tiếng động nhẹ vang lên làm tôi giật thót cả mình. Một cảm giác lạ lùng khiến tôi ngồi bật dậy hình như có một sự thay đổi kỳ lạ nào diễn ra ngoài chánh điện. Tôi có cảm tưởng như những pho tượng đang sống dậy, mỉm cười rạng rỡ và không gian vang vang một cái gì rộn ràng nhưng trang nghiêm. Tôi nhắm mắt lại, cố gắng thuyết phục mình rằng đó chỉ là một giấc mơ, nhưng hình như có sự hiện diện của một cái gì làm tôi phải mở choàng mắt ra.
Tôi nhìn thấy một bóng người đang đứng trước bàn thờ, hai tay chắp vào nhau một cách cung kính rồi lễ xuống nhẹ nhàng... Sau đó, bóng người thong thả quay qua những pho tượng Bồ Tát kế bên và tiếp tục nghi thức đảnh lễ... Việc một người giữa khuya bước vào chánh điện lễ Phật không làm cho tôi ngạc nhiên, nhưng tôi có cảm tưởng như dưới mỗi cái lạy, cả chánh điện như bừng sáng lên. Phải chăng các pho tượng đều cảm ứng trước lòng thành của người này nên họ đều trở nên rạng rỡ? Mỗi khi bóng đen cúi rạp người xuống đất, tôi lại thấy rung động. Tôi chưa từng thấy ai có thể thi lễ một cách thành kính như vậy, mỗi cử chỉ của người đó như toát ra một vẻ sống động lạ thường, khác hẳn với các hành động máy móc, giả tạo mà tôi thường thấy ở một số tu sĩ.
Bóng đen tiếp tục đi từ pho tượng này đến pho tượng khác một cách thành kính, trang nghiêm. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu, tôi nhận ra đó là vị sư già vẫn thường lo việc quét dọn, lau chùi trong tu viện.
Theo chỗ tôi biết thì đa số các tu sĩ trong tu viện đều được gửi đi học tại các đại học Phật giáo hoặc được huấn luyện cẩn thận, trừ vị sư già này vốn là người mù chữ, vô học nên trọn đời chỉ ở dưới bếp làm những công việc tầm thường như giã gạo, xay lúa và quét dọn. Không ai chú ý đến ông và ông cũng chỉ lặng lẽ làm tròn bổn phận một cách khiêm tốn, vô cùng khiêm tốn.
Tại sao một tu sĩ không theo khóa lễ thông thường mà lại hành lễ vào lúc đêm khuya như thế này? Tôi yên lặng theo dõi, và mặc dù bên ngoài trời rất lạnh mà mồ hôi của tôi toát ra như tắm. Tôi nhận thấy mỗi bước đi, mỗi cái vòng tay cung kính lễ xuống của vị này đều bao hàm một cái gì vừa trang nghiêm vừa sống động, có một uy lực vô song mà một tu sĩ hơn nửa đời người hành lễ như tôi cũng chưa bao giờ kinh nghiệm được. Một người giỏi tất nhiên biết một người giỏi hơn, và tôi phải nói rằng từ trước đến nay, tôi chưa thấy ai thành kính lễ Phật được như vậy.
Ít hôm sau, khi trời bắt đầu quang đãng, trục giao thông được tái lập, nhưng tôi không muốn trở về Sri Lanka nữa. Hình như có một mãnh lực nào đó xui khiến tôi ở lại để khám phá những sự kiện lạ lùng mà tôi đã chứng kiến này. Tôi linh cảm rằng cuộc đời mình sắp bước vào một giai đoạn mới, và một điều gì đó sẽ làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi.
***
Thật không ngờ! “Nhờ” ngôn ngữ bất đồng mà tôi thường yên lặng. Và khi giữ yên lặng, tôi quan sát được nhiều hơn. Khi những âm thanh ồn ào, những âm thanh hào nhoáng của ngôn ngữ chấm dứt, người ta có thể dễ dàng cảm hòa vào bối cảnh chung quanh hơn.
Tôi được biết tên của vị sư già là Kachenla, ông sống trong một căn phòng nhỏ ăn thông với chánh điện. Mặc dù đã lớn tuổi nhưng ông không bao giờ ngồi yên. Từ buổi sớm tinh sương người ta đã thấy ông lão quỳ mọp dưới đất với tấm vải dày để lau sàn chánh điện. Khi các vị sư sãi bắt đầu tề tựu để làm lễ buổi sáng thì sàn chánh điện đã được lau sạch như gương, và Kachenla bắt đầu việc châm dầu vào những ngọn đèn, hàng trăm ngọn rải rác khắp nơi trong chánh điện. Ông biết đích xác ngọn đèn nào sắp hết dầu phải châm thêm và từ tốn làm việc đó một cách vô cùng cẩn thận. Mặc dù tay chân đã run rẩy vì tuổi già nhưng tôi không bao giờ thấy ông đánh đổ một giọt dầu nào xuống sàn. Mỗi cử động của ông đều chính xác và cho thấy sự tập trung tuyệt đối.
Sau khi đã sửa soạn chánh điện tươm tất cho buổi lễ, ông lẳng lặng vác cây chổi ra sân. Từ cửa sổ trên chánh điện, tôi yên lặng quan sát ông lão làm việc. Mỗi nhát chổi, mỗi cánh tay đưa ra đều sống động, tươi tắn và dứt khoát, như thể ông luôn hiểu rõ việc làm của mình.
Tôi thấy ông đào lên một tảng đất sét, trịnh trọng hòa với nước rồi nhào nặn thành những pho tượng Phật nhỏ. Mỗi động tác đều đi kèm một câu niệm gì đó. Sau đó, ông cẩn thận đặt những pho tượng vào một lò nung nhỏ do tự tay ông đắp từ lâu và nung cho đến khi chúng cứng rắn. Ông thong thả lấy ra từng pho tượng và cắm cúi vẽ vào đó các chi tiết, mỗi nét tay đưa đều cẩn thận đi cùng một câu khấn niệm. Bàn tay tài hoa của ông đã biến miếng đất sét vô tri vô giác thành những pho tượng sống động trông như thật. Tôi không thể ngờ công việc thủ công bình thường mà qua bàn tay của ông lại trở thành một nghi thức tôn giáo thiêng liêng, trang trọng đến vậy.
Điều Kachenla đã dạy cho tôi thật khiêm tốn và khó mà diễn tả bằng lời. Tôi chỉ biết quan sát từng cử chỉ, từng hành động của vị sư già bằng lòng ngưỡng mộ vô bờ.
Ít lâu sau, tôi – một vị đại tăng Sri Lanka – thấy mình suốt ngày lẽo đẽo đi theo vị sư lao công, cùng ông làm những công việc bình dị nhất, khiêm tốn nhất. Chính sự chân thành, giản dị và khiêm nhường của Kachenla đã khai mở, giúp tôi gặp được những vị thầy Tây Tạng sau này. Cho đến bây giờ, tôi vẫn luôn coi Kachenla như vị thầy đầu tiên, người đã khai ngộ cho tôi để bước vào thế giới rộng lớn bao la của Phật giáo Đại Thừa.
Kachenla đối đãi với tôi như một người con. Ông dạy tôi tiếng Tây Tạng bằng cách chỉ vào những đồ vật và phát âm thật rõ ràng, sau đó ông bắt tôi lặp đi lặp lại cho đến khi thật thuần thục. Mỗi sáng, ông thường mang cho tôi một thau nước nóng để rửa mặt. Đây là một tiện nghi đặc biệt mà ông không bao giờ sử dụng và các sư sãi khác trong tu viện cũng không hề được hưởng. Dù sao tôi cũng là khách quý của tu viện, một người đến từ miền nam, chưa quen với khí hậu lạnh của dãy Himalaya.
Mỗi sáng, tôi uống trà với Kachenla. Trong căn phòng bé nhỏ của ông lúc nào cũng có một bình trà nóng ủ trong một bọc trấu. Trà Tây Tạng khác hẳn với các loại trà mà tôi đã dùng qua, nó có vị mặn vì được trộn với bơ và muối. Lúc đầu, tôi thấy rất khó uống, nhưng về sau, khi đã quen với loại trà này, tôi không thể uống các loại trà nhạt nhẽo và vô vị khác.
Trước khi uống, Kachenla thường lấy một nhúm đậu rắc lên bàn tay rồi đọc thần chú. Sau đó, ông khẽ rắc nhẹ nó lên đám than hồng bằng một cử chỉ vô cùng thành kính. Đó là một nghi thức (mudra) quan trọng của Phật giáo Tây Tạng, nó khiến người ta ý thức từng hành vi của mình khi ăn uống, làm việc. Đây là một phương pháp vô cùng giản dị nhằm kiểm soát thân–khẩu–ý mà về sau tôi đã áp dụng.
Ngoài ra, với Nam Tông, Thiền là ngồi xếp bằng trong một tư thế nhất định, thở hít theo một nhịp điệu, định tâm theo dõi từng hơi thở. Với Bắc Tông, thì tất cả hành vi, cử chỉ đều là Thiền, vì quan niệm Thiền là sống và do đó ta cần ý thức sự sống trong từng hơi thở, từng nhịp điệu, từng giây, từng phút.
Nhờ quan sát Kachenla nên tôi mới nhận thức rằng, không có một cử chỉ nào của ông là dư thừa hay máy móc. Tất cả là sự biểu lộ một trạng thái siêu việt của nội tâm, một trạng thái tự nhiên như đi, đứng, nằm, ngồi, thở, hít,… đều là sự phối hợp vô cùng tự nhiên của thân, khẩu và ý.
Mỗi tối, sau khi đã làm xong phận sự, Kachenla mang một cây đèn dầu nhỏ đến chỗ tôi ngồi, và bắt đầu dạy tôi đọc các lời cầu nguyện, những câu thần chú bằng tiếng Tây Tạng. Tôi chăm chỉ ghi chép cách phiên âm vào một cuốn sổ nhỏ. Kachenla tỏ ra kiên nhẫn đặc biệt, ông sửa từng cách phát âm, từng chỗ phải nhấn mạnh, và thỉnh thoảng lại chỉ lên các pho tượng như ngụ ý cho tôi biết lời cầu nguyện đó sẽ được chư Phật, chư Bồ Tát chứng giám.
Dĩ nhiên, tôi không hiểu một chút gì về ý nghĩa những câu thần chú, và điều này khiến tôi lúng túng rõ rệt. Là một tu sĩ Nam Tông, tôi được huấn luyện vô cùng cẩn thận về các văn tự trong kinh điển. Trước khi đọc, một tu sĩ phải hiểu nghĩa từng câu kinh, từng danh từ một cách rốt ráo chứ không phải chỉ phát âm mà không hiểu gì hết. Nhưng hình như Kachenla lại chủ trương phá chấp mọi hình thức văn tự. Ông thản nhiên dạy tôi những câu thần chú mặc dù biết rằng tôi không hiểu một chút gì. Sau một thời gian, tôi cảm thấy như có một sự thay đổi rõ rệt trong nội tâm. Hình như mỗi lần phát âm những câu thần chú này, tôi ý thức trong người tràn ngập một thứ tình thương bao la từ Kachenla chuyển qua khiến tôi thấy bình an lạ lùng, một trạng thái mà ngôn ngữ không thể nào diễn tả được. Đó là lần đầu tiên tôi kinh nghiệm được sức mạnh của các câu thần chú (mantra), và những âm thanh huyền diệu xuất phát từ trái tim của một bậc tu chứng. Những âm thanh này không thể lấy tai mà nghe, dùng trí óc mà phán đoán, mà chỉ có thể kinh nghiệm được bằng trái tim cùng rung động một nhịp với nhịp điệu cao thượng của một trái tim cao cả khác.
Sau này khi đã thông thạo văn tự và ngôn ngữ Tây Tạng, đã hiểu được mật nghĩa của các câu thần chú, tôi mới thấy rằng những cảm giác trải nghiệm đầu tiên rõ ràng rất quan trọng, đôi khi có thể hơn cả con đường văn tự. Xét cho cùng, ngôn ngữ cũng chỉ là một công cụ truyền đạt thông tin và nó hẳn phải có giới hạn so với sự vô bờ của tri thức.
Dưới sự hướng dẫn của Kachenla, tôi bắt đầu ý thức những sự kiện nhỏ nhặt mà trước đó tôi chưa bao giờ chú ý đến. Từng bước đi, từng nhịp thở, từng cử chỉ của tôi dần dần được đặt dưới sự kiểm soát của ý thức chứ không còn tự động, vô ý thức như trước nữa. Tôi tập cách lật từng trang giấy trong cuốn kinh một cách thành kính, sau khi tụng kinh phải gói những cuốn sách dày vào trong bao lụa một cách trật tự, ý thức. Ngay như cuốn sổ tay của tôi ghi chép những câu thần chú cũng phải ngay hàng thẳng lối chứ không thể viết bừa bãi như thói quen ngày trước. Dù cho có viết sai, tờ giấy nháp cũng không được ném vào thùng rác hay vứt xuống đất, lấy chân giẫm lên. Kachenla dạy tôi cách mang những tờ giấy này để vào một chiếc hộp để về sau mang đi đốt. Ông coi tất cả mọi vật, ngay cả một tờ giấy nháp, cũng đều có tính chất thiêng liêng với những công dụng của nó.
Tôi tập cách đi bộ chung quanh tu viện, luôn luôn thuận theo chiều quay của trái đất quanh mặt trời. Đó là lộ trình để người đi ý thức sự điều hòa, trật tự của vũ trụ, và không bao giờ làm điều gì đi ngược lại với tự nhiên. Ngay khi muốn băng qua một mảnh sân hẹp để qua dãy nhà phía bên kia, tôi cũng phải xoay qua bên phải và đi vòng theo một lộ trình nhất định, chứ không phải muốn đi thế nào thì đi. Từng bước đi, từng hơi thở, từng cử chỉ phải nhất nhất tuân theo một nhịp điệu nhất định, và đặt dưới sự kiểm soát của ý thức. Mỗi khi đi ngang qua cửa tu viện, nơi có nhiều cối kinh(3) có khắc câu thần chú “Om Mani Padme Hum”, tôi lại khẽ lấy tay đẩy nhẹ để chúng quay, tâm niệm câu thần chú mà Kachenla đã dạy.
3 Tức prayer wheels, dạng hình con suốt hay con quay, có thể được làm từ kim loại, gỗ,…
Nhiều người phương Tây đã viết rằng người Tây Tạng sử dụng những cối kinh này như một hình thức nhờ những con quay cầu nguyện giùm. Trên mặt ngoài con quay có khắc những bài kinh, những câu thần chú và bằng cách quay chúng ví như hàng trăm lời kinh, thần chú được xoay chuyển vào không khí mang lời cầu nguyện lên Niết Bàn. Đây là một sự suy luận kỳ quặc và thiếu hiểu biết về phong tục và nghi thức của người Tây Tạng. Đối với người Tây Tạng, cầu nguyện không phải để yêu cầu một đấng vô hình nào từ bên ngoài thỏa mãn các ước vọng của họ, mà là biểu hiện sự ý thức tính chất thiêng liêng tiềm ẩn nơi mình. Nói một cách khác, tín đồ Phật giáo không trông đợi một năng lực thần quyền nào bên ngoài, mà chỉ lo gột rửa cho Phật tính sẵn có nơi mình được thanh khiết hơn, để nó có thể tự biểu lộ.
Sự chuyển động của những chiếc cối kinh ấy chỉ có vai trò đánh thức những khả năng sẵn có nơi người cầu nguyện. Cứ thế, những rung động xoay hòa nhịp với câu thần chú mà người xoay đang tập trung hướng đến trong tâm trí như một sự nhắc nhở, khơi gợi chủng tử thiện phát động.
Nói một cách khoa học hơn, vũ trụ là một sự xoay chuyển không ngừng của những tinh tú quanh những trục quay vô hình. Các hành tinh quay quanh mặt trời, các thái dương hệ quay chung quanh một dải thiên hà, và các dải thiên hà này cũng chuyển động chung quanh một dải thiên hà khác vĩ đại hơn. Tất cả đều liên quan với nhau mật thiết và cái này luôn luôn dựa vào cái kia mới hiện hữu được, như ngày và đêm, sáng và tối, đen và trắng, v.v.
Nếu sự chuyển động, cọ xát sinh ra điện hay các hiện tượng vật chất khác, thì sự xoay chuyển của tâm con người cũng sinh ra các hiện tượng đặc biệt. Các trạng thái của tâm và sự xoay chuyển của một con quay, cũng có những rung động đặc biệt ảnh hưởng đến chúng ta một cách huyền bí nào đó.
Mỗi ngày, tôi đều thong thả đi dạo chung quanh tu viện. Mỗi bước đi, mỗi hơi thở đều được kèm theo một câu thần chú mà Kachenla đã dạy tôi. Trong sự tĩnh lặng của buổi sớm mai, tôi bắt đầu ý thức rõ rệt một sự sống động luân chuyển trong cơ thể, hòa nhịp với cái thực tại vô cùng.
Mặc dù nằm trên một ngọn đồi thấp, nhưng toàn tu viện thường bị bao bọc bởi sương mù từ trên rặng Himalaya tỏa xuống. Ngay như giữa trưa mà người ta vẫn phải thắp đèn mới đọc kinh được. Sương mù dày đặc đến nỗi đôi khi tôi có cảm tưởng rằng ngôi chùa này nằm trên mây. Khi đứng dưới chân đồi nhìn lên, tôi chỉ thấp thoáng thấy chiếc mái cong hay một vài ngọn tháp nhô lên trong mây, và điều này đã tạo cho không khí nơi đây một vẻ huyền ảo, bí ẩn...
Khi đi thiền hành chung quanh chân đồi, nhiều lúc tôi có cảm tưởng như ngôi chùa thình lình xuất hiện từ một chốn hư vô nào đó, khi cơn gió thổi tạt đi lớp sương mù bao quanh chùa, và ngôi chùa cũng chợt biến mất, khi mây mù trên cao đổ xuống. Nhiều khi đi trong sương mù, tôi có cảm tưởng như kẻ lữ hành đơn độc, vất vưởng trong một thế giới lạ lùng, và tất cả chỉ là những ảo ảnh chập chờn, khi ẩn khi hiện.
Trong cái không khí huyền bí đó, mỗi buổi chiều về lại có một tiếng cồng lạ lùng ngân nga vọng lên từ phía hậu viện. Âm thanh lạ lùng huyền bí này khêu gợi sự tò mò của tôi nên một hôm tôi đánh bạo đi về hướng đó. Băng qua một con đường mòn nhỏ, tôi thấy một gian nhà nằm quay mặt về phía sau núi và tiếng cồng lạ lùng phát ra từ trong đó. Khi đến gần, tôi phát hiện có tiếng niệm chú trầm trầm của một vị sư vọng ra. Cứ thế, phải nhiều ngày sau tôi mới dám đánh bạo đến gõ cửa gian nhà nhỏ này và xin phép vào trong. Nhận ra tôi là khách quý của vị thầy trụ trì, vị sư đánh cồng đã mở cửa cho tôi vào, mặc dù gian nhà này không cho phép ai bén mảng lại gần.
Tôi hiểu ngay lý do tại sao gian nhà này lại được xây cất ở phía sau chùa và không ai dám lai vãng gần. Chính giữa gian phòng là một bức tượng hết sức ghê gớm của một vị hung thần tượng trưng cho sự hủy hoại, tàn phá. Khuôn mặt vị thần được che lại bằng một miếng lụa, vì rất ít ai có can đảm nhìn thẳng vào mặt Ngài mà về nhà không mất ngủ. Tôi từng nghe giải thích rằng vị thần này chỉ ghê gớm đối với những ai còn bám víu vào thế gian này hay các hình thức thường trụ của bản ngã. Sức mạnh của vị thần này có thể được sử dụng như một động lực giải phóng con người, nếu người đó ý thức được tính chất vô thường của thế gian và vô ngã của chính mình.
Người ta có thể coi đó là một vị hung thần hay một biểu tượng của sự giải phóng, tùy tâm trạng và trình độ của mỗi người. Biểu tượng này trông ghê gớm đối với những người chưa hiểu biết, chưa được chuẩn bị đón nhận chân lý. Do đó khuôn mặt của Ngài được che lại, và chỉ những người đã được chuẩn bị đặc biệt mới được phép bước chân vào đây và vén tấm màn này lên. Người Tây Tạng gọi Ngài là Cho Kyong Gon Po - vị thần bảo vệ luật pháp. Luật pháp đây là những quy luật của vũ trụ, như luân hồi, nhân quả, vô thường, v.v. Luật vũ trụ chỉ lợi ích cho những ai hiểu biết, chấp nhận và tiếp thu nó, nhưng lại là một thế lực kinh hoàng đối với những ai chống đối nó.
Ngoài căn phòng để bức tượng Cho Kyong Gon Po, tu viện này còn chứa đựng một sự bí mật lạ lùng khác nữa. Đó là một căn nhà vuông vức được dựng trên một cây cột nằm chơ vơ trên đỉnh đồi. Căn nhà không có cửa sổ nên không ai có thể nhìn vào trong được. Cửa vào gian nhà được đóng chặt và niêm phong cẩn thận.
Khi được hỏi về căn phòng lạ lùng này, Kachenla cho biết đó là am thất của vị Đại Lạt Ma đang tu nhập thất. Kachenla nói bằng một giọng thành kính gần như tôn sùng khiến trí tò mò của tôi lại càng tăng thêm bội phần. Tôi đâm ra thắc mắc không biết sự huyền bí của không khí nơi đây có liên quan gì đến vị tu sĩ tu nhập thất kia không? Hơn nữa, một người mà tôi hết sức kính phục như Kachenla lại tỏ ra khâm phục vị này, thì chắc vị đó phải là một nhân vật vô cùng đặc biệt. Vì một lý do nào đó, tôi ngỏ ý với Kachenla rằng tôi muốn gặp vị này, muốn học hỏi với vị này nếu vị Đại Lạt Ma này chấp thuận.
Kachenla tỏ ra vô cùng sốt sắng và hứa sẽ chuyển lời của tôi đến vị Đại Lạt Ma đó khi thuận tiện.
Vài tuần lễ lặng lẽ trôi qua, tôi không rõ Kachenla đã chuyển lời thỉnh cầu của tôi cho vị Đại Lạt Ma chưa. Hôm đó, vừa đi thiền hành về phòng, tôi thấy một quả xoài khá lớn đặt trên bàn. Xoài là thứ trái cây mà tôi thích nhất, nhưng nó chỉ mọc ở xứ nóng như Sri Lanka, chứ đâu thể mọc tại Tây Tạng. Ngoài ra, lúc này đâu đã đến mùa xoài? Tôi ngạc nhiên cầm quả xoài lên và thấy rằng không những nó rất tươi mà còn vừa vặn chín tới. Trong lúc tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú thì Kachenla bước vào, nét mặt rạng rỡ. Ông cho biết đó là quà của vị Đại Lạt Ma dành riêng cho tôi, vì ngài biết tôi rất thích xoài; hơn thế nữa, ngài đã chấp nhận lời thỉnh cầu xin được thụ giáo của tôi.
Kachenla sung sướng ra mặt, ông chia sẻ niềm vui với tôi như chính ông được diễm phúc đó. Ít khi nào tôi thấy ông vui như vậy. Căn phòng nhỏ của tôi dường như rạng rỡ hẳn lên dưới nụ cười tươi tỉnh của vị lão tăng này. Tôi biết rằng cuộc đời của tôi đã bắt đầu thay đổi kể từ đây...
Khi chuyển ngữ sang tiếng Anh, danh từ “Guru” thường được dịch thành “Teacher” – Thầy, nhưng cách dịch này không được chính xác. Có lẽ ngôn ngữ phương Tây không có danh từ nào tương đương với “Guru” của Tây Tạng.
Người thầy theo quan điểm phương Tây chỉ là người có kiến thức và truyền dạy kiến thức đó cho các học trò. Học trò học được nhiều hay ít và sử dụng kiến thức đó vào việc gì ông thầy không cần biết. Trong khi đó, một người thầy phương Đông không những chia sẻ những kiến thức với học trò, mà còn chịu trách nhiệm về điều mình dạy dỗ, và luôn luôn theo dõi học trò bằng một thứ tình cảm thầy trò mà người phương Tây không thể hiểu. Người thầy phương Đông vừa là thầy vừa là cha mẹ, vừa dạy dỗ vừa lo lắng và chăm sóc học trò như mẹ hiền trông nom con thơ.
Cũng như thế, danh từ “Chela” thường được dịch là “Pupil” – tức học trò. Nhưng một chela đúng nghĩa không phải chỉ cắp sách đến trường học hỏi kiến thức với một guru mà đời sống còn bị ràng buộc vào đời sống của người thầy. Sự liên hệ thầy trò được nối liền bởi một cây cầu tâm thức vô cùng đặc biệt. Nhờ những mantra – câu thần chú mà học trò có thể liên lạc với vị thầy bất cứ tại đâu và lúc nào. Cũng vì những lý do đặc biệt này, một người thầy luôn luôn lựa chọn học trò rất kỹ qua những thử thách đặc biệt để xem người đó có xứng đáng nhận lãnh những kiến thức này không. Phần lớn những thử thách đều diễn ra vô cùng thâm thúy và tế nhị. Nó không phải là một kỳ thi, một cuộc khảo sát, mà đôi khi chỉ là những câu nói, những lời đề nghị. Tùy theo câu trả lời hoặc hành động của học trò, mà vị thầy biết được đã đến lúc học trò đã đủ sức học hỏi hay còn phải chờ thêm một thời gian nữa.
Kachenla cho biết đã đến lúc vị Đại Lạt Ma rời am thất ra ngoài. Vị Đại Lạt Ma này không phải ai khác mà chính là Hòa thượng làng Tomo, vị Lạt Ma lừng danh khắp Tây Tạng. Dĩ nhiên, lúc đó tôi không biết gì về ngài và cái tên Tomo Geshe Rinpoche không gây cho tôi một ấn tượng gì nhiều. Tôi chỉ lờ mờ hiểu rằng đó là một vị Lạt Ma tu hành công phu và đáng kính mà thôi.
***
Sáng hôm đó, không khí trong tu viện thật khác lạ, số tăng sĩ cũng đông đảo hơn ngày thường. Tôi không hiểu nhiều người từ đâu đến, vì tôi không hề nhìn thấy họ trong tu viện này. Có thể họ ở gần đó hoặc vẫn tĩnh tu trong các mật thất trên núi. Ngay cả những vị tăng sĩ mà tôi quen biết cũng thay đổi trang phục vô cùng tề chỉnh. Họ yên lặng kéo nhau đến chánh điện, nét mặt người nào cũng rạng rỡ như đang chờ đợi điều gì đó. Mùi nhang trầm xông lên thơm ngào ngạt, đèn nến được thắp khắp nơi sáng trưng.
Một tiếng chuông ngân dài, rồi cánh cửa chính bỗng mở ra, hai hàng Lạt Ma trưởng lão thong thả bước vào, chính giữa là một vị Lạt Ma đã già nhưng nét mặt vô cùng hiền từ, khoác một chiếc áo vàng được vá bằng hàng trăm mảnh vải nhỏ: Hòa thượng Tomo.
Lạt Ma Tomo bước đến trước pho tượng đức Di Lặc, hai tay chắp lại giơ cao lên trên trán bằng một cử chỉ trang nghiêm, thành kính, rồi cúi rạp người xuống đảnh lễ. Một tiếng chuông thong thả ngân lên. Ngài đi một vòng quanh các pho tượng Bồ Tát, và tiếp tục nghi thức đảnh lễ cho đến hết một vòng chánh điện, rồi mới bước lên chiếc bục gỗ thấp gần đó, ra hiệu cho các tăng sĩ cùng ngồi xuống. Tĩnh lặng bao trùm lên khắp chánh điện, bình an lan tỏa rồi thẩm thấu vào lòng người – một niềm phúc lạc vô biên không thể diễn tả bằng lời. Đó là lần đầu tiên tôi thực sự kinh nghiệm được ý nghĩa trọn vẹn của bình an.
Vị Lạt Ma trụ trì thong thả đứng lên ra hiệu và khóa lễ bắt đầu với những nhạc khí cùng trỗi lên một lượt.
Đối với người phương Tây, âm nhạc chỉ được sử dụng như một hình thức diễn tả tình cảm con người. Đối với người Tây Tạng, âm nhạc lại đóng vai trò quan trọng hơn vì tính chất thiêng liêng của nó.
Tôi không phải là một nhà nghiên cứu âm nhạc nên dĩ nhiên kiến thức của tôi về âm nhạc không có gì đáng kể. Nhưng tôi đã đọc một vài tài liệu của một số tác giả phương Tây về âm nhạc Tây Tạng và thấy rằng họ đã có những nhận định sai lầm thật đáng tiếc.
Đa số đều nhận xét âm nhạc của Tây Tạng dưới quan niệm của một người châu Âu, trên nền tảng hệ thống âm nhạc châu Âu nên cho rằng âm nhạc Tây Tạng thiếu tổ chức, không theo các âm luật thông thường. Dĩ nhiên, âm nhạc Tây Tạng không được phân chia theo luật lệ của người Âu, nhưng điều này không có nghĩa nó thiếu tổ chức. Trái lại, nó được sắp đặt theo những luật lệ riêng biệt mà người Âu thiếu kiến thức về tôn giáo không thể hiểu được.
Đời sống người Tây Tạng gắn liền với tôn giáo, xã hội Tây Tạng xây dựng trên nền tảng tôn giáo từ mấy ngàn năm nay, nên âm nhạc nơi đây cũng xuất phát từ tôn giáo. Tuy nhiên, mục đích của âm nhạc Tây Tạng không nhằm ca tụng một đấng tối cao hay kêu gọi lòng sùng tín mà là sự diễn tả những âm thanh một cách trung thực như chính bản thân nó. Âm nhạc Tây Tạng không hề được sử dụng vào bất cứ mục đích cá nhân nào, nó nhằm vào một đối tượng có tính chất rộng rãi, bao quát hơn nhiều. Do đó, nó không diễn tả niềm vui, nỗi buồn như ta thường thấy ở các loại âm nhạc khắp thế giới mà chỉ lặp đi lặp lại những âm thanh rời rạc trong một giới hạn nào đó. Cũng vì thế, nó cần phải có sự hòa hợp của nhiều loại nhạc khí khác nhau để tạo thành bản nhạc, và đây là một điểm đặc biệt ít người để ý đến. Nhạc khí Tây Tạng không hề được sử dụng để độc tấu, mà luôn luôn hợp tấu. Vì những lý do nào đó, âm nhạc Tây Tạng thường chú trọng đến các rung động sâu xa nên các nhạc khí như cồng, chuông, trống, tù và, kèn được sử dụng nhiều hơn các loại đàn dây.
Người ta không thể hiểu âm nhạc Tây Tạng nếu không biết đến các mantra, vì các bản nhạc được sắp đặt làm sao để có những âm thanh rung động ở tông thật trầm, thật sâu như chuỗi âm phát ra của những câu thần chú. Sự sắp đặt về âm thanh của âm nhạc Tây Tạng như phản ánh một quan niệm: Âm thanh là một nguồn sức mạnh hết sức nhiệm màu. Nếu một âm thanh phát ra đúng cách có thể phá vỡ một cái ly thủy tinh, thì sự phối hợp âm thanh bằng những tiết điệu đặc biệt có thể tạo ra các quyền năng siêu hình, huyền bí, ảnh hưởng đến các cõi giới xa xăm.
Căn bản của dàn hòa tấu nào cũng gồm có một cặp radong – tù và dài khoảng 3 – 4 mét, có âm sắc trầm, ngân như tiếng sóng biển. Hai nhạc công thay phiên nhau thổi để âm thanh trầm ngâm như gió lướt trên mặt biển này không bao giờ dứt. Và như âm ngân dài của tiếng “Om” khởi đầu cho một mantra, các radong luôn là nhạc cụ bắt đầu cho một tấu khúc âm thanh trong dàn nhạc Tây Tạng.
Đối với một tăng sĩ xuất thân từ Sri Lanka như tôi, việc sử dụng nhiều nhạc khí trong các khóa lễ quả là một điều lạ lùng. Vốn chỉ quen nghe tiếng chuông và mõ, lúc đầu tôi thấy hơi khó chịu vì tiếng radong cùng các nhạc cụ hơi – kèn xen lẫn với bộ gõ. Nhưng càng về sau, tôi lại thấy đây là một đặc điểm hết sức tinh tế, có thể giúp cho buổi lễ thêm phần trang trọng và hướng dẫn tinh thần người hành lễ đạt đến một bình diện cao hơn.
Quan niệm Theravada – Phật giáo Nguyên Thủy cho rằng âm nhạc chỉ là một phương tiện để tiêu khiển, giải trí, nên đời sống tôn giáo không cho phép các tu sĩ nghe nhạc hay mang âm nhạc vào tôn giáo. Có lẽ vì vậy nên cuộc sống tu hành mới được coi là khổ hạnh, phải kiềm chế cảm xúc, trong khi kiến thức lại được đề cao hơn kinh nghiệm tâm linh. Sự bảo thủ này đã đưa Phật giáo Nguyên Thủy vào một lối sống chật hẹp, gò bó, không phóng khoáng, thoải mái như Phật giáo Đại Thừa.
***
Tôi không thể diễn tả sự vui mừng của mình khi đứng trước mặt vị Lạt Ma nổi tiếng của Tây Tạng, người có khả năng mang lại sự bình an cho tất cả mọi người.
Cuộc gặp gỡ của chúng tôi diễn ra trong căn phòng nhỏ của ngài. Như tất cả những căn phòng khác tại tu viện này, căn phòng được bày biện hết sức giản dị với một chiếc ghế rộng dùng để thiền định. Đa số các vị Lạt Ma cao cấp đều sử dụng một chiếc ghế tương tự để ngồi thiền, gần như không bao giờ họ nằm nên không phòng nào có giường ngủ cả. Họ ngồi đó trong tư thế liên hoa, giờ này qua giờ khác, đắm mình trong trạng thái thiền định khi không tiếp xúc với ai. Chiếc ghế của Hòa thượng Tomo có khắc một bánh xe Pháp và một đám mây ngũ sắc, nét khắc sắc sảo trông rất linh động. Tất cả những đồ đạc khác trong phòng đều có tính cách tôn giáo: một lư hương, một cái chuông và một cây tích trượng bằng đồng v.v. Hòa thượng Tomo không sở hữu bất cứ vật gì. Khi di chuyển từ chùa này qua chùa khác, ngài chỉ mang theo một ít vật dụng tối thiểu. Đối với ngài, một hang đá đơn sơ cũng không khác gì một dinh thự nguy nga, một căn phòng đầy đủ tiện nghi lộng lẫy không hơn gì một căn phòng trơ trụi với một chiếc ghế mộc mạc. Tất cả những đồ vật người ta cúng dường cho ngài đều được mang ra phân phát đều cho các tăng sĩ hoặc sung vào quỹ của chùa. Tuy đi khắp nơi, trú ngụ nhiều chỗ, nhưng tôi không bao giờ thấy ngài mang theo bất cứ một vật gì nhận lãnh của tín đồ. Ngài tu theo hạnh Đầu Đà (Anagarika), chủ trương tuyệt sở hữu và ít khi lưu lại nơi nào lâu dài.
Hôm đó, tôi đã quỳ trước mặt ngài làm lễ ra mắt, và ngài đã đặt bàn tay lên trán tôi trong cử chỉ ban ân huệ. Toàn thân tôi như chìm trong niềm phúc lạc tuyệt vời. Tất cả những câu hỏi, lời nói tôi định thốt ra bỗng tiêu tan hết, vì tôi đã nhận được câu trả lời không bằng ngôn ngữ nhưng bằng một sự giao cảm thần bí. Tôi lặng người trong sự bình an mà ngôn ngữ không thể nào diễn tả trong một thời gian rất lâu.
Hòa thượng Tomo ngồi yên trên chiếc ghế bằng gỗ, tôi không thể đoán ngài bao nhiêu tuổi, có lẽ khoảng ngoài sáu mươi. Ngài có một khuôn mặt tròn lúc nào cũng lộ vẻ tươi cười khiến mọi người cảm thấy yên tâm, thoải mái trước sự hiện diện của một người như vậy.
Một điều lạ cũng cần được nêu ra, Hòa thượng Tomo không thích ai chụp ảnh ngài. Tất cả những người công khai hoặc lén lút chụp ảnh ngài đều thấy rằng tấm ảnh họ chụp hoặc trắng tinh như chưa hề chụp, hoặc chỉ thấy những đồ đạc chung quanh nhưng không bao giờ thấy ngài. Ngài không thích sự tôn sùng cá nhân và không muốn trở thành đối tượng cho những hành động đó.
Hôm đó, sau khi làm lễ nhập môn cho tôi xong, ngài đã nói ngay:
– Nếu con muốn ta làm thầy của con thì con đừng nhìn cái thân thể vô thường, nay còn mai mất này như vị thầy của con. Chúng ta đều là những kẻ bất toàn, thay vì nhìn vào những điểm bất toàn này, con hãy nhìn thẳng vào Phật tính vốn hoàn hảo và hiện diện trong tất cả chúng sinh. Thay vì chấp nhận những điều ta chỉ dạy cho con như điều đó đến từ ta, thì con phải coi đó là những chân lý hằng có trong vũ trụ mà đức Phật Thích Ca đã chứng ngộ và giảng giải trong giáo pháp của ngài. Ta chỉ là một kẻ tuân theo những giáo pháp đó mà đi theo ngọn đuốc mà đức Phật Thích Ca đã soi đường. Khi con quỳ lạy trước mặt ta, con không phải quỳ lạy ta, mà là hành động trân trọng Phật tính mà đức Phật Thích Ca đã khai ngộ cho tất cả chúng sinh.
Đừng nhìn vào ngón tay chỉ mặt trăng mà quên đi luồng ánh sáng tuyệt vời phát xuất từ mặt trăng. Đừng trông cậy vào ta như là người sẽ đưa con đến chân lý, mà hãy trông cậy vào chính con, trông cậy vào cái Phật tính luôn tiềm tàng nơi con để hướng dẫn con trên đường về bến Giác. Đừng nhìn vào thân thể này, bộ áo này hay những điều ta nói như một sự thật tuyệt đối, mà hãy chứng nghiệm nó, nghi ngờ nó, xét đoán nó cho đến khi không còn một nghi ngờ hay thắc mắc nào. Đừng vì quá cung kính hay lễ phép mà không dám đặt câu hỏi, vì như vậy là con đã mất đi một cơ hội để tiến gần hơn đến sự thật.
Điều quan trọng nhất mà con phải biết là tất cả mọi chúng sinh đều có khả năng thành Phật, đều có sẵn Phật tính trong mình, chỉ vì mê lầm không nhận rõ tính chất cao quý thiêng liêng nơi mình mà chúng sinh mới bị mê đắm vào vòng đau khổ.
Vì tất cả chúng sinh đều có Phật tính, nên tất cả chúng sinh đều tuyệt đối bình đẳng, không có gì sai khác. Nếu con tự cho rằng mình cao cả hơn kẻ khác và có thái độ khinh bỉ với họ, thì con không thể nào tiến xa trên đường giải thoát. Con phải biết rằng lý do chúng ta sống trong cái thế giới bất toàn này là vì chúng ta còn bất toàn, và tất cả mọi sự xảy ra đều chịu sự chi phối của luật Nhân Quả. Bằng thái độ sống chân chính, con có thể vượt qua các khó khăn trở ngại, thay thế những sự kiện bất toàn bằng những điều toàn vẹn, và nhờ thế không những con trở nên vẹn toàn hơn mà còn biến thế giới này thành tốt đẹp hơn nữa.
Biết tôi là một tăng sĩ đã dành nửa đời người nghiên cứu giáo lý và kinh điển Phật giáo, Hòa thượng Tomo không đề cập đến các giáo điều mà đi thẳng vào việc thực hành thiền định mà ngài cho rằng quan trọng hơn các lý thuyết.
Theo ngài thì trước khi bước chân vào con đường tu thiền, một người phải trau dồi thân–khẩu–ý cho thật trong sạch. Chỉ khi nào giữ vững được thân–khẩu–ý thì mới nên bước chân vào con đường tu thiền. Bước đầu của việc tu thiền là làm nảy nở lòng từ bi nơi mình, vì đó là điều kiện quan trọng nhất. Thiếu điều kiện này, thì việc tu thiền không những sẽ không mang lại kết quả gì mà còn rất nguy hiểm về sau, vì chỉ có từ bi mới giúp ta vượt qua được các trở ngại do các tình cảm ích kỷ và các giới hạn chật hẹp của tri thức gây nên. Để đạt đến thái độ này, người tu thiền phải coi tất cả mọi chúng sinh như người thân trong gia đình, vì không một sinh vật nào trong vũ trụ này mà không có sự liên hệ với nhau trải qua vô lượng kiếp luân hồi. Ngoài ra, người tu thiền còn phải ý thức thật rõ rệt từng giây, từng phút mình đang sống, từng cử chỉ, từng lời nói, tất cả đều phải được hướng dẫn rõ rệt bằng nội tâm chứ không thể sống một cách máy móc, vô ý thức. Ngài nhấn mạnh rằng, thiền định là một lối sống chứ không phải một phương pháp để thực hành trong những lúc rảnh rỗi hay những khi không có việc gì để làm. Đây là một điểm hết sức quan trọng của Đại Thừa, vì Thiền chính là sống, sống đúng, sống thật với ý nghĩa của sự sống. Tiểu Thừa và các môn phái Yoga của Ấn Độ thường tách rời thiền định (meditation) ra khỏi cuộc sống và biến nó thành một phương pháp (technique) hơn là một lối sống.
Vì không phải là một kỹ thuật hay phương pháp, nên người ta không thể học hỏi nó qua sách vở mà phải có sự hướng dẫn trực tiếp của một vị thầy. Do đó, thiền định còn là một kinh nghiệm tâm linh giữa thầy và học trò mà trong đó, người học trò cố gắng đặt tâm thức của mình hòa hợp vào tâm thức của vị thầy.
Để đạt đến điều này, người tu thiền phải luôn luôn nghĩ đến đức Phật như ngài đang hiện diện bên trong họ chứ không phải ở bên ngoài. Bất cứ sự mong cầu một quyền lực nào bên ngoài cũng đều là những vọng niệm cần phải loại trừ, vì không một uy lực nào bên ngoài có thể giúp chúng ta. Ngay chính sự mong cầu một điều gì, dù là sự bình an hay niềm phúc lạc, cũng đã là một vọng niệm rồi.
Chỉ khi nào người tu thiền ý thức rõ rệt rằng đức Phật ngự trị ở bên trong, thì họ mới có thể hiểu trọn ý nghĩa câu thần chú linh thiêng “Om Mani Padme Hum”. Chỉ khi lòng từ bi hoàn toàn khai mở như một đóa hoa Sen (Padme) vươn cao lên khỏi vũng bùn và bắt đầu khai hoa, thì hương thơm của Trí Tuệ (Mani) mới bắt đầu tỏa ra khắp nơi và mọi hành động Thân–Khẩu–Ý (Om) mới thật sự phản ảnh trọn vẹn đúng cái ý nghĩa cao đẹp nhất của Sự Sống (Hum).
Khi lòng từ bi phát triển trọn vẹn, người tu thiền không còn ao ước sự giải thoát cho chính mình nữa, mà thấy mình và chúng sinh không hề sai khác, mình với tất cả chúng sinh chỉ là một, và khi chúng sinh còn vướng mắc trong vòng đau khổ thì làm sao mình có thể giải thoát được?
Khi trí tuệ đã phát triển trọn vẹn, thì làm sao mình có thể lầm lạc, có thể hành động trái với luật thiên nhiên, trái với chân lý được? Khi mọi vật đều sáng tỏ, không còn vô minh, tất cả mọi sự thật đều phơi bày rõ ràng thì đâu còn mê đắm, đâu còn khổ đau. Khi từ bi và trí tuệ đều phát triển trọn vẹn thì không còn sự phân biệt nữa. Từ bi cũng là trí tuệ mà trí tuệ cũng là từ bi, và người tu đã chứng đắc, đã đi vào con đường Trung Đạo, thấy rõ bản thể chân như của sự vật: Tất cả đều là một, hình tướng tuy khác nhưng thể tánh chỉ có một. Đó chính là ý nghĩa câu kinh “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”.
Điều may mắn nhất cho tôi là trước khi được Hòa thượng Tomo chỉ dạy, tôi đã may mắn nhận được “sự chuẩn bị” kỹ lưỡng của Kachenla. Ngoài ra, tôi còn quen một vị Lạt Ma gốc Mông Cổ tên là Thubden Serab vốn thông thạo cả Anh ngữ lẫn Tạng ngữ.
Thubden là một Lạt Ma trưởng lão đã tu học ở Lhasa hơn hai mươi năm, được phong làm Hòa thượng (Geshe) và đại diện cho Giáo hội Tây Tạng tại Trung Hoa. Tại đây, ông đã giúp học giả Von Staël–Holstein(4) trong công trình khảo cứu Phật giáo nên có cơ hội học hỏi thêm về Anh ngữ.
4 Căn cứ theo ngày tháng năm sinh và các mốc công trình nghiên cứu, chúng tôi cho rằng học giả này chính là bá tước Alexander Staël von Holstein (1877–1937) người Estonia.
Vì Thubden muốn học tiếng Pali(5) nên tôi đề nghị ngay một sự trao đổi: ông dạy tôi tiếng Tây Tạng, và tôi giúp ông học tiếng Pali.
5 Ngôn ngữ thiêng của Phật giáo Nguyên Thủy.
Nhờ Thubden làm thông ngôn, tôi có thể nói chuyện dễ dàng hơn với Hòa thượng Tomo, nhưng về sau tôi mới biết rằng ngài không cần ai thông dịch cả. Ngài có thể đọc rõ tư tưởng của tôi như mở một cuốn sách, và ngài cũng không cần phải sử dụng ngôn ngữ để giải thích một điều gì, vì khi tôi thiền định, ngài có thể gieo vào tâm tôi những tư tưởng tốt lành, giúp tôi có thể chứng nghiệm được những điều ngài muốn nói.
Khi Hòa thượng Tomo chấp nhận tôi làm đệ tử và truyền cho tôi câu chú đầu tiên, tôi bỗng ý thức rằng từ trước đến nay, nếp sống tu hành của mình vẫn còn một thiếu sót rất lớn: kinh nghiệm tâm linh! Đây là một kinh nghiệm không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, không thể suy xét bằng lý luận, không thể nghĩ bằng triết lý. Đó là thứ kinh nghiệm trực tiếp, một bằng chứng hùng hồn cho người đi trên đường đạo biết rằng, điều mà họ đang theo đuổi không phải chỉ là một lý thuyết xa vời, một ý tưởng trừu tượng, mà là điều người ta có thể đạt được, kinh nghiệm được.
Nhiều người đã hỏi tôi: nếu đã kinh nghiệm được thì tại sao lại không thể diễn tả? Theo sự hiểu biết của tôi thì sự chuyển động của tâm thức cũng giống như sự chuyển động của ánh sáng, tất cả những ý muốn nắm bắt lấy nó đều chỉ là ảo vọng vô ích, Cái ý tưởng nắm giữ một vật hằng chuyển là một quan niệm điên rồ.
Sự tĩnh lặng của tâm hồn không có nghĩa là sự bất động của tâm thức hay kìm giữ, bắt nó đứng yên; đó là trạng thái tâm thức thực sự tự do, không bám víu, ràng buộc hay bị vướng mắc. Để giải thích điều này, ta có thể dùng ví dụ những nốt nhạc. Tự mỗi nốt nhạc không có ý nghĩa gì, chỉ là một âm thanh đơn lẻ. Chúng chỉ có ý nghĩa khi hiện diện cùng những nốt nhạc khác, liên kết với các nốt nhạc khác vì âm nhạc là sự tương tác giữa những nốt nhạc với nhau. Sự tương tác này lưu chuyển tự do, không thể nắm giữ và chặn lại mà chỉ có thể để tự thân cảm nhận chúng qua dòng âm điệu du dương trầm bổng. Nếu phân tách một giai điệu thành từng phần nhỏ, ta chỉ còn những nốt nhạc rời rạc, vô hồn, vô ý. Tương tự như thế, ngay cái khoảnh khắc ta bắt đầu phân tách, sắp đặt thành hệ thống các kinh nghiệm tâm linh, chúng ta đã bóp chết sự sống động màu nhiệm của chúng rồi.
Trong số những vị thầy mà tôi được biết, Tomo Geshe Rinpoche hẳn nhiên là vị thầy quan trọng nhất. Một sự liên quan mật thiết đã nối liền tâm thức tôi với ngài ngay trong buổi lễ nhập môn. Lúc đó, tôi không biết gì nhiều về ngài nên đã tránh được những chủ quan mà người khác thường gặp phải khi tiếp xúc với một bậc tu hành như vậy. Nhờ quan sát với một tinh thần vô tư tuyệt đối mà tôi nhận thấy ngài sở hữu rất nhiều siddhi – quyền năng, thứ chỉ có ở những bậc tu chứng. Dĩ nhiên không bao giờ ngài khoe khoang điều này, nhưng nhiều sự kiện tự nhiên xảy ra đã xác nhận những nhận xét của tôi.
Hôm đó, chúng tôi quây quần bên ngài để nghe nói về các kinh nghiệm khi thiền định. Thubden Sherab vì đã tu cao nên có nhiều câu hỏi mà tôi không hiểu gì hết. Tôi ngồi nghe nhưng tâm hồn cứ vẩn vơ những chuyện đâu đâu.
Tôi nghĩ rằng có hợp ắt có tan, có gặp gỡ thì cũng có ngày tạm biệt, một ngày nào đó Hòa thượng Tomo sẽ rời nơi đây để vân du nơi nào đó. Biết bao giờ tôi mới có dịp được ngồi bên ngài, để được che chở trong luồng từ điện an tĩnh toát ra từ ngài như thế này? Mặc dù Tomo Geshe Rinpoche đã dạy rằng thời gian và không gian chỉ là tương đối, rằng giữa tôi và ngài đã được nối liền bởi một cây cầu tâm thức, thì dù xa xôi vạn dặm ngài sẽ như vẫn ở bên cạnh, vẫn chăm lo săn sóc cho tôi. Lúc đó, trong tâm thức tôi vẫn còn chút gì đó chưa trọn vẹn nên chỉ ao ước một thứ gì đó có thực như một lá bùa hộ mệnh hay một pho tượng Phật nhỏ đeo trước ngực để che chở khi cần thiết.
Tôi còn đang miên man suy nghĩ thì Hòa thượng Tomo đã ngừng câu chuyện với Sherab, quay về phía tôi tuyên bố:
– Trước khi rời nơi đây, ta sẽ cho con một pho tượng Phật nhỏ để con biết rằng lúc nào ta cũng để ý và săn sóc con.
Tôi bàng hoàng đến nỗi không thốt ra được một lời nào. Điều tôi không dám nói nhưng đã nghĩ đến thì cũng như đã nói ra rồi, và Hòa thượng Tomo có thể đọc rõ tư tưởng của tôi như một cuốn sách. Dù đang chú tâm chỉ dẫn cho Thubden Sherab, nhưng ngài vẫn theo dõi được tư tưởng của từng đệ tử, nghe được các ao ước thầm kín của họ. Đây là một quyền năng mà trong kinh điển Tây Tạng, nó gần với “Thiên lý nhĩ” – nghe được mọi điều cầu xin của thế gian.
***
Hòa thượng Tomo tu theo hạnh Đầu Đà (Aganarika), ít khi ở đâu lâu dài mà thường di chuyển khắp nơi để thuyết pháp, độ sanh. Thỉnh thoảng, ngài dừng chân tại một nơi nào đó để nhập thất, tĩnh dưỡng ít lâu rồi lại tiếp tục công việc hoằng pháp. Lần này ngài đã lưu lại tu viện Yi Gah Cholin này hơn một năm để nhập thất, nhưng đã đến lúc ngài phải lên đường.
Giờ phút cuối, khi tôi quỳ trước mặt ngài làm lễ tạm biệt, thì ngài rút trong túi ra một pho tượng Phật nhỏ và nói rằng trong suốt thời gian qua, lúc nào ngài cũng cầm pho tượng này trong tay khi thiền định cho đến lúc trao nó cho tôi.
Vừa đón lấy pho tượng, tôi đã cảm thấy ngay một luồng từ điện mãnh liệt như sóng biển cuồn cuộn từ pho tượng chuyển qua khiến tôi thấy mình chìm đắm trong một biển tình thương rộng lớn. Tôi cúi rạp người xuống, nước mắt ràn rụa không sao thốt nên lời. Từ đó tôi hiểu rằng, dù xa cách muôn trùng, ngài không bao giờ xa tôi, và dù ở bất cứ nơi đâu ngài cũng thường xuyên để ý và săn sóc đến tôi.