Đường Mây Qua Xứ Tuyết/ Chương 4: CHƯƠNG 3 - ĐƯỜNG MÂY RỘNG MỞ
Mục lục
16.5px
Đường Mây Qua Xứ Tuyết

Chương 4: CHƯƠNG 3 - ĐƯỜNG MÂY RỘNG MỞ

CHƯƠNG 3 - ĐƯỜNG MÂY RỘNG MỞ

Tôi tiếp tục sống tại tu viện Yi Gah Cholin một thời gian, rồi sau đó quyết định ổn định luôn tại Ghum(6) trong một căn nhà thôn quê cô tịch. Mỗi ngày tôi đều chăm chỉ thực hành các nghi thức Hòa thượng Tomo truyền dạy, cũng như trì tụng bài thần chú ngắn khẩu truyền. Tôi thường theo Kachenla làm những công việc tầm thường trong tu viện, có điều bây giờ thì đó không còn là “tầm thường” nữa. Từng bước đi, từng cử chỉ của tôi đã bắt đầu khớp với tâm thức. Từng hơi thở, từng tư tưởng dần dần được đặt dưới sự kiểm soát của nội tâm. Đời sống đối với tôi không còn là một cuộc đấu tranh mà đã trở thành sự nhiệm màu.

6 Chính là thành phố có tu viện Yi Gah Cholin này.

Thời ấy(7), Tây Tạng là vùng địa lý hẻo lánh, ngăn cách với thế giới bên ngoài bằng một rặng núi cực kỳ hiểm trở. Mặc dù người Anh đã mở đường giao thông từ Darjeeling đến tận Lhasa, nhưng trong vòng mấy chục năm vẫn có rất ít người ngoại quốc dám bén mảng vào. Ngay các viên chức ngoại giao cũng chỉ dám đi theo những lộ trình nhất định, dưới sự hộ vệ của một đại đội vũ trang cẩn thận. Không phải người ta sợ giặc cướp hay những cuộc nổi dậy của dân chúng địa phương; vấn đề là ở chỗ cái vẻ huyền bí lạ lùng của xứ sở đó. Một “thứ gì đó” không thể diễn tả, và chính vì không thể diễn tả mà người ta sợ, và vì sợ hãi mà Tây Tạng trở thành vùng đất cấm, người lạ không mấy ai dám đặt chân đến.

7 Lưu ý là hành trình này của tác giả diễn ra vào giai đoạn đầu thế kỷ 20 nên xin tránh lầm lẫn giai đoạn lịch sử này của Tây Tạng với những giai đoạn khác.

Tuy nhiên, thôi thúc tìm đến quê hương của người thầy vĩ đại của mình, trong thời gian còn ở Yi Gah Cholin, một lần nọ tôi quyết định theo đoàn khách thương mạo hiểm lên tận đỉnh núi để được ngắm nhìn Tây Tạng lần đầu tiên. Lần đó, trải qua nhiều vất vả trên đường đi, lại còn gặp khó khăn do thời gian lưu trú eo hẹp nhưng những gì được thấy, tôi sẽ không thể nào quên được. Hành trình đến được biên giới với Tây Tạng hệt như được xem một buổi biểu diễn tranh động: Khung cảnh thay đổi liên tục. Chỉ vừa phút trước là cảnh này, đến phút sau đã thấy cảnh khác, dấu tích của cảnh trước đó hoàn toàn biến mất. Hết những cánh rừng già rậm rạp của vùng Đông Ấn rồi lại đến sương mù vùng biên giới. Và rồi, điều kỳ diệu hiện ra.

Mây và ánh sáng!

Trên đỉnh cao nhất, nơi vừa nãy còn bị bao quanh bởi một tảng mây đen khổng lồ giờ đã tan biến, cổng trời vừa mở. Trước mắt tôi, bầu trời xanh trải dài, ánh nắng rọi khắp rặng Tuyết Sơn rồi phản chiếu ngược lại khiến khắp nơi sáng bừng đến độ chói mắt. Như để làm tăng thêm cảm giác sâu rộng vô chừng của vùng không gian ấy, trên đầu tôi, mây trắng lững thững trôi từng mảng, trôi về phía xa vạn dặm, về phía Tây Tạng.

Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy vùng đất thiêng Tây Tạng, cũng là lúc tôi hiểu rằng từ đây, mình sẽ trôi theo lối bạch vân để bước vào mảnh đất nhiệm màu của guru. Tôi sẽ học thêm nhiều điều trong cõi bình an và vẻ đẹp bao la của thiên nhiên.

Như những kẻ hành hương muôn thuở, tôi đi quanh tháp đá đánh dấu điểm địa lý của đoàn người vừa qua, miệng không ngừng khấn nguyện câu thần chú thầy đã dạy, rồi đặt thêm một viên đá lên cột mốc ấy để tỏ lòng biết ơn vì đã dẫn lối cho tôi tới được đây. Tất cả khiến tôi nhớ đến lời Phật Di Lặc trong Phật giáo Nguyên Thủy: “Ngàn dặm lang thang – Hỏi đường mây trắng”(8).

8 Nguyên văn tiếng Anh: “Alone I wander a thousand miles… And I ask my way from the white clouds”. Do đây là câu nói của vị Phật Di Lặc tương lai theo quan niệm Tiểu Thừa nên độc giả cần tránh sự đồng nhất với vị Phật Di Lặc quen thuộc trong văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Như đã nói, chuyến đi này không kéo dài do giới hạn thời gian lưu trú sắp hết. Song trên đường trở lại Ghum, tôi cảm thấy bình an, khấp khởi kỳ lạ. Dù nơi trở về là vùng rừng già heo hút và u tịch Ấn Độ, tôi vẫn tin tưởng sớm muộn gì, mình cũng sẽ lại lần theo đường mây qua xứ tuyết mà thôi.

***

Mùa xuân năm 1933, tôi lên đường.

Lần này, tôi hướng đến vùng Tây Bắc của Tây Tạng. Hành trình này chia làm hai chặng: chặng đầu vẫn theo một đoàn thương buôn (trong đó có cả học giả Rahul Sankrityayan(9)) lên Bắc Ấn, vùng giáp ranh Pakistan, Tân Cương và Tây Tạng; chặng sau tôi đi một mình. Đoàn của chúng tôi qua Kashmir, Baltistan rồi Ladak – nơi còn được gọi là “Tiểu Tây Tạng” vì nó từng là một phần của vương quốc Guge xưa. Đến Leh, tôi tách đoàn đi về phía Đông, hướng đến “miền đất hứa” của mình.

9 Mahapandit Rahul Sankrityayan (1893–1963) là học giả Ấn Độ. Được xem là cha đẻ của chủ nghĩa văn học xê dịch Ấn Độ. Ông đã đến rất nhiều vùng lãnh thổ trong khu vực Nam Á và quanh rặng Himalaya.

Trong chặng đầu của cuộc hành trình, tôi đã tự rèn luyện để thích nghi với khí hậu bằng cách tập ngủ ngoài trời, chỉ phủ lên mình một tấm chăn nỉ không thấm nước để tránh mưa và tuyết. Cũng may lúc bấy giờ, thời tiết khu vực rặng Tuyết Sơn lại khô và nhiều nắng, dữ dội và thiêu đốt hơn cả ở Ấn Độ. Song, với gió lạnh phả xuống từ những đỉnh tuyết phủ, ta sẽ không thể cảm nhận được cái nóng bằng giác quan thông thường. Chỉ đến khi da bị sưng phồng và rộp hết cả, ta mới biết trời nóng khô.

Sau khi nghỉ ngơi tại một tu viện ở Ladak, tôi cảm thấy thật sảng khoái và thư thái. Tôi nghĩ về những chặng đường sắp tới, về sự cô tịch nơi vùng đất ẩn sau những rặng tuyết phủ, trải dài giữa sông Indus và rặng Karakoram(10). Điểm đến tiếp theo của tôi là Changtang.

Lạt Ma Pharih Dzong tại tu viện Rizong Pordah, Ladak, Ấn Độ

10 Karakoram hay Karakorum, là rặng núi lớn trải qua Pakistan, Ấn Độ (Ladak) và Tân Cương. Trong bản tiếng Anh và ấn bản cũ của dịch giả Nguyên Phong đều dùng Karakorum. Song, trong quá trình tìm kiếm và xác nhận tư liệu, First News phát hiện thêm địa danh Karakorum – cố đô Mông Cổ vào thế kỷ 13. Vì thế, để tránh nhầm lẫn, chúng tôi dùng Karakoram.

***

Mốc độ cao trên 5.400 mét đã ở trước mặt. Sau nhiều tuần dữ dội, mặt trời giờ đã “gục ngã” và đang “lẩn trốn” sau những đám mây đen. Mưa trút, những hạt nước như hàng ngàn mũi kim đâm bỏng rát và lạnh căm vào mặt chúng tôi. Mọi thứ bỗng trở nên tăm tối và bất an. Những đỉnh núi tuyết trắng nhọn hoắt bị bóng đen bao trùm, trông như những chiếc răng nhọn hoắt của một con quái vật khổng lồ.

Hai người dẫn đường của tôi không nói một lời nào. Ai cũng chìm trong những suy nghĩ riêng, ngay cả mấy con ngựa cũng máy móc bước tới. Tôi hơi bất an trong lòng, thầm lo về khả năng sẽ vướng phải một trận bão tuyết khi vượt qua mốc độ cao sắp tới.

Chiều tối hôm đó, chúng tôi đến được một hẻm núi, sắp tới thế là phải leo trèo rồi. Dưới chân một khối đá lởm chởm, dọc theo sườn núi dốc đứng là những túp lều tồi tàn. Chúng có dạng hình hộp nên khó mà nhầm lẫn với những tảng đá khổng lồ hình thù kỳ dị rải khắp nơi đây.

Trái ngược với những vật thể rách rưới ấy là những chorten(11) được quét vôi trắng. Khắp vùng Tây Tạng này có đến hàng triệu chorten thế này, nằm rải rác ở những nơi con người từng đi qua, thậm chí ở ngay cả những mốc địa lý nguy hiểm như đường dẫn đến một cây cầu đang tạm thời bị đóng cửa hay những khối núi đá kỳ lạ gần lộ trình của những đoàn thương buôn. Như thể đá núi qua thời gian đã thành hình các chorten này, đây chính là dấu hiệu cho biết có một đền thờ hoặc tu viện ở gần đó.

11 Các chorten này có nguồn gốc từ các stupa của Ấn Độ, tức tháp chứa hài cốt các vị tăng sư. Các tháp này có thể có dạng một tháp lớn hay nhiều tháp nhỏ. Ở đây có lẽ tác giả đang nói tới các tháp nhỏ.

Do trước đây từng được nghe về những tu viện đá cổ xưa tọa lạc trong những hẻm núi này, tôi men theo con đường mòn nhỏ dọc theo lối những chorten và rồi thấy mình lạc trong mê cung của những bức tường đá và lổn nhổn đá cuội từ trên cao lăn xuống theo dòng băng tan. Càng lúc đường càng dốc hơn, đến cả mấy con ngựa cũng không chịu đi tiếp và chúng tôi phải bỏ chúng lại phía sau. Nhưng rồi dấu vết công trình hiện ra, từ những vách đá, chúng tôi thấy những tòa nhà dạng hình hộp cao, với những ban công thò ra thụt vào nơi những bức tường nghiêng. Thật khó mà nói đâu là nơi đá núi nối tiếp với nhà cửa. Tất cả vừa khít vào nhau như thể chúng được sinh ra và lớn lên từ trong nhau.

Mong tìm thấy nơi ẩn náu qua đêm, chúng tôi leo qua những mỏm đá cheo leo, nhưng càng vào sâu hơn, hy vọng càng nhòa dần. Chẳng thấy bóng dáng sự sống ở đâu cả. Ngay cả một con chó canh giữ cũng không thấy, còn tôi lại chẳng dám bước vào bất kỳ một tòa nhà nào. Gần lối vào mỗi căn nhà là một cấu trúc đá dạng kim tự tháp, bên trên là một phiến đá cứng với những hòn đá nhỏ trong đó. Tôi vừa định quay sang hỏi một trong hai người đồng hành xem liệu đây có phải một mô hình thu nhỏ của chorten không thì đã thấy anh ta cầm lên một hòn đá tròn nhỏ rồi thả rơi xuống cái đĩa đá kia. Hóa ra đó là một kiểu “chuông cửa” của người Tây Tạng.

Chúng tôi “gõ cửa” mấy ngôi nhà mà mọi thứ vẫn im lặng. Vậy là đành trèo lên cao hơn nữa. Thế rồi chúng tôi gặp một cái sân nhỏ, một bên là lối đi tựa như một hè nhà bằng gỗ có mái che, phía khác là mặt trước một đền thờ nhỏ nép mình vào lòng đá núi. Đối diện với phía có lối đi là một phức hợp công trình của con người lẫn vào tạo hóa. Đó là một tòa nhà hai tầng có bao lơn mở, và ở phía trước là những dạng đá địa chất bị ăn mòn kỳ dị đâm thẳng lên trời. Ngay giữa sân là một lá cờ nguyện màu trắng. Rõ ràng đây là sân của một tu viện, có điều bóng người chẳng thấy đâu.

Dù vậy, tôi vẫn an tâm vì cảm giác đây là nơi nghỉ chân yên tĩnh và thoải mái, tránh được mưa và cái lạnh. Nhưng đột nhiên, tôi nghe thấy tiếng chó sủa phía sau lưng mình. Tôi nhìn quanh tìm lối thoát nhưng bốn bề đã kín lối, giống như mình đã bị rơi vào một cái bẫy!

May mà con chó đó không thuộc giống chó Tây Tạng dữ dằn và nguy hiểm mà tôi từng nghe nói, nhất là khi một vị Lạt Ma già với khuôn mặt hiền từ đang theo sau con vật. Ông lịch sự chào những người khách lạ. Tôi cũng cung kính chắp tay chào, vừa định lên tiếng xin trú ngụ qua đêm, thì ông đã mở lời trước, có lẽ là do nhìn thấy bộ y phục trên người tôi.

Tôi bước theo vị Lạt Ma qua một dãy hành lang hẹp để vào chánh điện lễ Phật. Chánh điện là một hang động rất lớn với rất nhiều hình vẽ lạ lùng khắc trên vách đá. Chính giữa là một bức tượng Phật Di Lặc rất lớn, hai bên có nhiều pho tượng Bồ Tát bằng đá trông rất linh động. Sau khi làm lễ ở chánh điện, tôi được mời vào một căn phòng nhỏ, vị Lạt Ma già cho biết đó là căn phòng dành riêng cho một vị khách quý mỗi khi ngài ghé qua đây.

Trong lúc tôi đang đàm đạo với vị Lạt Ma già thì hai người dẫn đường đã mang hành trang của tôi vào phòng, theo sau là một số đông các tăng sĩ trong chùa tò mò muốn biết mặt vị tu sĩ vừa từ phương xa đến.

Tôi mở hành lý lấy ra cái lò đốt để chuẩn bị nấu trà, mọi người xúm quanh nhìn chiếc lò bằng sắt. Có lẽ họ chưa bao giờ thấy một chiếc lò như thế. Khi tôi đổ dầu hôi vào bếp và châm lửa thì tất cả chợt im bặt. Những con mắt đổ dồn vào chiếc lò như tự hỏi, làm sao người này có thể tạo ra lửa từ thứ chất lỏng như nước kia. Nhiều người lắc đầu không tin, có lẽ họ nghĩ tôi hẳn phải là một thầy phù thủy. Vài người tò mò giơ tay trước ngọn lửa như sợ rằng đó chỉ là một ảo ảnh ma thuật, nhưng đã phải rút tay lại khi chạm vào hơi nóng.

***

Nếu tôi có bay bổng lên không trung hay hô phong hoán vũ chắc cũng không làm họ ngạc nhiên bằng việc đổ một chất lỏng vào hộp sắt rồi tạo ra lửa. Nhiều người có vẻ sợ sệt không biết tôi sẽ sử dụng ngọn lửa vào việc gì, một vài người lùi lại lẩm bẩm niệm Phật, nhưng rồi họ đều cười ầm lên khi thấy tôi đặt chiếc ấm sắt lên lò rồi bỏ vào đó một nhúm trà. Họ tò mò xem xét cách tôi pha trà, nhưng vì đã sống tại Yi Gah Cholin nên tôi làm đúng như cách pha trà của người Tây Tạng. Sau cùng thấy không có gì lạ, họ kéo nhau đi để tôi ngồi lại trong chiếc phòng bằng đá đục sâu vào vách núi.

Trời chưa tối hẳn và tôi cũng không cảm thấy buồn ngủ. Tôi xếp bằng trên tấm nệm và bắt đầu chuẩn bị nghi thức đọc thần chú. Tự nhiên tôi cảm thấy căn phòng này phảng phất một cái gì quen thuộc, một không khí bình an, yên tĩnh lạ thường. Bao mệt nhọc của chuyến hành trình dường như tan biến ngay khi tôi vừa đặt chân vào đây. Tôi bắt đầu tụng bài chú thì một sự kỳ lạ diễn ra, bức tường đá trước mặt dường như chuyển động, hình như nó đang sống dậy rồi một linh ảnh hiện ra trước mặt tôi. Trong ánh hào quang sáng rỡ, đức Di Lặc đang oai nghiêm ngồi trên một tòa sen, hai tay xếp vào nhau theo Đại Tam Muội ấn. Tôi nhắm mắt lại một chút để trấn tĩnh tâm hồn rồi mở mắt ra thì hình ảnh đức Di Lặc vẫn hiện ra rõ ràng trước mắt, oai nghi và sống động hơn bao giờ hết. Tự nhiên tôi thấy trong lòng dâng lên một cảm xúc khó tả, một sự tĩnh lặng bình an mà tôi chỉ cảm thấy mỗi khi ở gần Hòa thượng Tomo. Tôi cảm thấy sự hiện diện gần gũi của thầy, ngay ở bên tôi, hình như ngài đang hướng dẫn tôi bước vào luồng hào quang rực rỡ của đức Di Lặc, tai tôi nghe vang vang những diệu âm của bài chú mà tôi vẫn tụng không biết bao lần.

Tôi quay lại nhìn căn phòng, đồ đạc vẫn y nguyên không thay đổi và rõ ràng tôi không hề mê ngủ vì trí óc vẫn có thể kiểm soát tay chân dễ dàng. Tôi quay lại nhìn bức tường đá và thấy ánh sáng rực rỡ lan tỏa khắp nơi, trong luồng ánh sáng có hằng hà sa số chư Phật, chư Bồ Tát đang thuyết pháp, diệu âm vang lừng không gian. Tôi thấy rõ mình đang đứng trước hải hội chư Phật đó, đang cúi đầu đảnh lễ và dâng lên những bông hoa Mạn Đà La rực rỡ cúng dường chư Phật. Tôi nghe rõ từng lời kinh, từng câu thần chú quen thuộc và thấy những tòa sen liên kết thành hình những đàn tràng Mạn Đà La, những biểu tự ngoằn ngoèo chói sáng tác động mạnh mẽ vào tâm thức tôi, làm tôi thấy mình như rơi vào một biển ánh sáng quang minh rực rỡ. Tôi phải nhắm mắt lại một lúc mới giữ được cho tâm không xúc động.

Khi mở mắt ra, linh ảnh đã biến mất, trên tường chỉ còn lại một tia nắng ấm áp từ cửa sổ rọi vào. Tôi thấy trong người hết sức nhẹ nhàng và sảng khoái; bên ngoài cửa sổ cảnh vật hiện ra rõ ràng dưới ánh nắng của buổi chiều tà. Có tiếng chuông chiều từ đâu vọng lại, ngân dài trong không gian...

Sáng hôm sau thức dậy, tôi thu xếp hành trang chuẩn bị lên đường. Tôi muốn gặp vị Lạt Ma già đã tiếp tôi để ngỏ lời cảm ơn nhưng cả tu viện đều vắng tanh, không một bóng người.

Tôi bước dọc theo dãy hành lang dài có vẽ hình ảnh các vị Bồ Tát, các vị Phật cũng như các biểu tự ngoằn ngoèo. Người dẫn đường nhìn thấy tôi đang trầm ngâm bèn lên tiếng:

– Chỗ này làm ngài không vui à?

– Không đâu, tôi rất thích không khí nơi đây. Ít chỗ nào lại êm đềm thanh tịnh như ngôi thạch tự này.

– Hẳn nhiên rồi, ngài được ngủ trong căn phòng đó thì dĩ nhiên phải yên tịnh rồi.

– Tại sao vậy?

Người dẫn đường kể:

– Hôm qua các vị tăng trong chùa này bàn cãi với nhau rất lâu về việc để ông ngủ trong căn phòng đó. Đó không phải một căn phòng thông thường mà được dành riêng cho một vị khách quý của chùa. Vị này đã có công xây dựng nên ngôi thạch tự này, thỉnh thoảng ngài có ghé qua đây thuyết pháp và chỉ dẫn cho các tăng sĩ trong chùa...

Tự nhiên tôi giật nẩy mình, một ý nghĩ bất ngờ nổi lên khiến tôi vội vã hỏi dồn:

– Nhưng... nhưng vị đó là ai?

– Tôi không biết rõ tên nhưng mọi người thường gọi vị Đại Lạt Ma này là Hòa thượng Tomo.

Tôi buột miệng la lớn:

– Đó là thầy của tôi.

Thốt nhiên tôi bỗng ý thức rõ rệt bầu không khí an tĩnh của tu viện cũng như linh ảnh mà tôi được chiêm ngưỡng hôm qua. Linh ảnh đó là một kinh nghiệm tâm linh cho thấy rằng tôi vừa được điểm đạo lần thứ hai.

Trong buổi lễ điểm đạo lần đầu cách đây bốn năm tại Yi Gah Cholin, Hòa thượng Tomo đã dặn tôi: “Một ngày nào đó, con sẽ thấy được những Hóa thân của chư Phật và chư Bồ Tát, vốn là những điểm linh quang hiện hữu trong chính con. Dĩ nhiên hiện nay đó chỉ là những ý niệm mơ hồ trong tâm thức con mà thôi. Song, nếu một ngày con có thể nhận thức về chư Phật lẫn những linh quang kia rõ ràng như thế giới mà con cho là thế giới vật chất quanh con kia, con sẽ hiểu được rằng thế giới bên trong cũng như bên ngoài đều có thể chuyển biến. Lúc đó, tất cả chỉ còn là lựa chọn của chính con: muốn trở thành nô lệ trong thế giới này hay biết tận dụng khả năng giác ngộ có sẵn để tự khai ngộ, vượt ra khỏi xiềng xích kiềm tỏa của vòng luân hồi”.

Hơn bao giờ hết, tôi cảm thấy rõ rệt sự hiện diện của Hòa thượng Tomo trong tâm thức mình, lúc đó tôi mới thực sự tin tưởng chắc chắn vào sợi dây vẫn luôn kết nối tâm thức tôi với tâm thức ngài. Chính ngài đã giúp sức cho tôi vượt qua những rặng núi hiểm trở để đến ngôi thạch tự ngài đã xây dựng nhiều năm trước đó. Chính ngài đã hướng dẫn vị Lạt Ma trụ trì đưa tôi trú ngụ trong căn phòng đặc biệt dành riêng cho Champa kia. Tôi cúi đầu chú tâm vào bài thần chú mà ngài đã truyền cho, đầu óc tôi trở nên thông suốt một cách lạ thường, dường như có một tiếng nói vô thanh nổi lên giải đáp mọi thắc mắc vẫn có từ trước tới nay. Tự nhiên tôi ngẩng đầu nhìn lên những bức tranh vẽ trên vách đá và chợt hiểu...

Điều mà trong lúc trú ngụ tại tu viện Yi Gah Cholin tôi vẫn thắc mắc nay đã được giải đáp. Những bức tranh vẽ trên tường, những chủng từ ngoằn ngoèo thần bí không phải chỉ là những hình thức trang trí nghệ thuật, mà còn là tượng trưng cho ý nghĩa cao siêu màu nhiệm xuất phát từ những kinh nghiệm nội tâm của người họa sĩ. Họ đã vẽ lại một cách chính xác những rung động của làn sóng quang minh trong tâm thức. Và vì thế, phải là những bậc đạo đồ đã có những kinh nghiệm tâm linh mới cảm thấu và hiểu được những truyền tải ẩn trong đó.

Tôi cũng ý thức rằng, sư phụ tôi, Hòa thượng Tomo đã vén màn bí mật này cho tôi với mục đích rõ rệt. Ngài có ý muốn tôi mang những bức tranh, những biểu tự này truyền ra bên ngoài, nhưng vì mục đích gì thì lúc đó tôi chưa thể hiểu được. Dĩ nhiên, đối với một người thường thì đó chỉ là những đường nét ngoằn ngoèo vô nghĩa. Nhưng với những người đã gia công tu tập thì nó mang một ý nghĩa khác hẳn, màu nhiệm và huyền bí vô cùng.

Vì lý do này, tôi đã sưu tầm những bức họa cổ Tây Tạng và đặc biệt tô lại những bức họa khắc trên vách đá tại những hang động của các bậc tu chứng, những người nhập thất quán chiếu những biểu tự đó. Một trong những công trình sưu tập của tôi là hình vẽ tám mươi bốn vị Siddha(12). Về sau, những bức họa này được trưng bày tại bảo tàng Allahabad(13).

12 Danh hiệu chỉ những vị tu khổ hạnh đã đạt được phép thần thông.

13 Bảo tàng nổi tiếng ở Ấn Độ, nơi lưu trữ nhiều tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Như có một bàn tay vô hình hướng dẫn, chuyến du hành đã đưa tôi đến nhiều tu viện cổ, nơi lưu trữ những kinh điển, tài liệu soạn thảo từ thế kỷ thứ mười một, trong đó có một ngôi đền do Đại sư Rinchen Zangpo lập nên. Đại sư vừa là một học giả, một nhà xây dựng nhiều công trình Phật giáo khắp Tây Tạng, vừa là một nghệ sĩ và một vị Thánh. Chính ngài đã cộng tác cùng nhiều học giả Ấn Độ khác để phiên dịch nhiều pho kinh kệ của Phật giáo nơi đây, trong đó có hai bộ kinh Kangjur và Tangjur mà gần như người Tây Tạng nào cũng trì tụng. Bất cứ nơi nào đi ngang qua, ngài đều cho xây dựng nhiều đền đài, chùa và nơi tu tập cho chúng sinh.

Ngoài ra, trong chuyến đi này, có một điều khiến tôi rất đỗi thích thú. Đó chính là khí hậu lạnh–khô của Tây Tạng. Điều này đảm bảo những bức họa cổ, những bức khắc bằng gỗ qua hàng ngàn năm vẫn được nguyên vẹn. Tôi chắc chắn rằng ngày nay, chúng ta vẫn có thể tìm được những tài liệu quý báu trong những tu viện bị bỏ hoang, hay những hang động nằm trong những địa điểm bí mật, ít ai đặt chân đến.

***

Khi chúng tôi vượt qua mốc độ cao hơn 5.400 mét của đỉnh Karakoram thì bầu trời trong xanh, không gợn bóng mây. Ở bên này đỉnh núi, hơi nóng từ mặt trời tỏa xuống dữ dội đến mức tôi phải cởi bỏ hết những phục sức giữ ấm trên người. Nhưng vừa qua được sườn núi bên kia, khí hậu chuyển sang lạnh giá và tôi đâm tiếc vì không có sẵn đồ ấm trong tay. Không khí lạnh đến nỗi phải hoạt động luôn tay luôn chân để giữ ấm và vì thế, tôi chẳng thể yêu cầu cả đoàn dừng lại để mở hành trang lấy áo khoác ra.

Khí hậu Tây Tạng thay đổi vô cùng đột ngột, ngoài nắng nhiệt độ có thể lên đến 38oC nhưng trong bóng mát lại xuống gần không độ là chuyện thường. Ngồi trên ngựa, khắp mặt và tay tôi sưng phồng vì nắng, nhưng đôi chân ủ trong giày lại tê cóng vì lạnh. Mặc dù đã bôi đủ loại thuốc nhưng da tôi vẫn bị rộp lên, đau đớn vô cùng. May thay chỉ một thời gian sau, cơ thể tôi quen dần với khí hậu nơi đây nên không còn khó chịu nữa.

Bình nguyên Aksai(14) là một trong những nơi hoang vu nhất Tây Tạng, rất ít ai đặt chân đến kể cả những người dân bản xứ. Trong cảnh thiên nhiên hùng vĩ bao la này, tôi mới thực sự ý thức được ý nghĩa của từ “tự do”, một từ ngữ thường bị lạm dụng trong đời sống văn minh ngày nay.

14 Một trong hai khu vực tranh chấp biên giới chính, ở giữa Ấn Độ và Trung Quốc ngày nay. Có lẽ khu vực này trước đây cũng từng thuộc tiểu quốc Guge xưa.

Làm sao có thể gọi là “tự do” khi từng chi tiết nhỏ nhặt của đời sống đều được hoạch định cẩn thận? Làm sao có thể gọi là “tự do” khi mỗi giây mỗi phút đều được kiểm soát bởi những thời khóa biểu hay cái đồng hồ? Và “tự do” cũng không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu thì đi.

Khi nói đến “tự do”, ta nói về khả năng chấp nhận tất cả mọi sự vô thường trong trời đất. Tự do là đón nhận cuộc sống với vòng tay mở rộng, là khả năng thay đổi theo hoàn cảnh chung quanh nhưng vẫn kiên định, không mất đi lòng tin vững chắc nơi mình. Tự do là trải nghiệm tất cả mọi sự, mọi lẽ ở đời với tinh thần khách quan vô tư, là quan sát bằng “thấu kính” trong suốt, không thành kiến.

Con người phát minh ra đồng hồ để đo lường thời gian, nhưng họ cũng vô tình chia cắt sự sống đang cuồn cuộn chảy khắp nơi thành những mảnh vụn nhỏ rời rạc. Họ càng cố gắng tiết kiệm thời giờ chừng nào, thì càng mất đi sự sống màu nhiệm chừng đó. Tự do thật sự là sống từng giờ, từng phút khi quá khứ trở thành hiện tại và hiện tại chính là tương lai – một thứ hiện tại vĩnh cửu.

Từ khi bước chân vào Tây Tạng, tôi ý thức được một sự chuyển hóa kỳ lạ diễn ra trong người. Tôi có thể nhập định, quán tưởng những điều đã được chỉ dạy một cách dễ dàng. Và nhờ vậy, những nhận thức và trải nghiệm tâm linh của tôi đường như tiến bộ hẳn. Tôi tự hỏi phải chăng Tây Tạng đặc biệt hơn những nơi khác? Sau này suy nghĩ mãi tôi mới tìm được lời giải thích mà tôi cho là hợp lý hơn cả: Hòa thượng Tomo đã truyền dạy cho tôi phương pháp thiền định mà trong đó, pranayana (hơi thở) phải đi đôi với asana (cử chỉ, hành động) và tất cả được đặt dưới sự kiểm soát của ý chí.

Trên độ cao của bình nguyên Aksai, không khí rất loãng nên ta phải hít vào thật sâu mới có đủ dưỡng khí. Vô tình, sự hô hấp sâu này không khác gì với cách kiểm soát hơi thở pranayana là bao nhiêu. Trên đường thiên lý, người ta không thể ngồi mãi trên lưng ngựa mà có khi phải đi bộ cho lừa, ngựa được nghỉ ngơi. Nhưng cũng không thể đi nhanh chậm tùy ý mà phải cố gắng tiết kiệm sức lực bằng cách đi thật đều và giảm bớt các cử chỉ vung tay, vung chân thừa thãi. Sự kiểm soát cử chỉ này cũng không khác mấy các tư thế asana. Ngoài ra, ngày cũng như đêm, lúc nào tôi cũng cố gắng định tâm để niệm các bài thần chú khẩu truyền. Nói tóm lại, một cách vô tình, tôi đã thực hành phương pháp thiền định mà Hòa thượng Tomo truyền dạy trong suốt cuộc hành trình. Đây hẳn là một lý do khác khiến những tích lũy tu hành của tôi có sự tiến bộ đến vậy.

Trong sự tĩnh lặng bao la của thiên nhiên, khả năng tập trung tư tưởng để thâm nhập nội tâm trở nên dễ dàng hơn vì không còn bị chi phối bởi ngoại cảnh. Bầu trời rộng rãi trở thành một tấm gương lớn phản chiếu tất cả những tư tưởng thầm kín bên trong, để rồi khuếch đại chúng lên hàng trăm lần. Chính trong sự yên lặng này, những tế bào thần kinh của con người như hòa vào tự nhiên và dễ rung cảm hơn, điều này giải thích hiện tượng “thần giao cách cảm” thường có ở các tộc người du mục.

Thực vậy, nhà thám hiểm Sven Hedin(15) đã viết trong một cuốn du ký chuyện ông từng theo chân một đoàn khách thương tiến sâu vào phần trung tâm và phía đông Tây Tạng. Khi đó, đoàn của ông cần mướn một người hướng đạo nhưng bốn bề hoang vu chẳng thấy bóng người. May mắn thay, lúc đó có một đoàn người du mục địa phương đi ngang qua. Tuy nhiên, ông nhờ mãi mà chẳng ai đồng ý dẫn đường cho đoàn ông; mãi về sau mới có một người thanh niên nhận lời. Người này còn trẻ và nhút nhát, anh thú thật là không quen di chuyển đông người nên chỉ chịu dẫn đường cho cả đoàn nếu được đi trước một mình, với một khoảng cách nhất định so với những người còn lại, bằng không anh sẽ không thể tập trung vào những dấu mốc và hướng đi.

15 Sven Anders Hedin (1865–1952) là nhà thám hiểm người Thụy Điển. Ông đồng thời tự minh họa trong những tác phẩm kể lại những hành trình của mình. Ông đã có nhiều khám phá quan trọng về mặt địa chất và địa lý khu vực Trung Á.

Sven Hedin tôn trọng yêu cầu của anh còn đoàn khách thương tuyệt nhiên không gây ra bất kỳ trở ngại nào cho việc dẫn đường của anh. Họ luôn theo sau anh một quãng đủ xa để không gây xao nhãng đến sự tập trung cao độ của anh. Bất hạnh thay, đoàn người đi được ít lâu thì anh thanh niên bị bệnh rồi chết. Dĩ nhiên, giữa chốn hoang vu thâm sơn cùng cốc, đoàn khách thương đành bước lui về lối cũ để tránh bị lạc.

Nào ngờ, vừa lùi được ít lâu thì họ gặp một thanh niên khác hối hả đi đến, anh này xưng là em ruột của người thanh niên vừa chết. Anh cho biết trước khi chết, người dẫn đường đã tập trung tư tưởng chuyển một thông điệp cho em để nhờ người này hướng dẫn đoàn khách thương vượt qua dải bình nguyên như đã định. Anh ta còn nêu rõ được vị trí nơi cả đoàn đã chôn cất cho anh trai mình.

Lúc mới đọc cuốn sách này của Sven Hedin, tôi không tin tưởng cho lắm. Nhưng rồi một trải nghiệm xảy đến với chính mình đã làm tôi phải suy nghĩ nhiều: Trong lúc hành trình đến Tây Tạng, tôi vẫn lo lắng cho mẹ ở nhà. Tôi lo rằng bà cụ có thể đau ốm hoặc chết trước khi tôi có thể về thăm bà lần cuối. Lần đó, Li Gotami, người bạn đồng hành của tôi đã bày tỏ chuyện này cho những người dẫn đường. Hôm sau, một người cho biết mẹ tôi vẫn mạnh khỏe như thường, nhưng bà cụ ít khi đi đâu vì chân bị phong thấp. Dĩ nhiên, tôi không tin kiểu tiên đoán vu vơ như vậy. Nhưng vài tuần lễ sau, tôi nhận thư mẹ, bà nói là bà vẫn mạnh khỏe nhưng khó đi đứng vì chân bên trái bị sưng to.

Sau này, tôi mới biết rằng chỉ trong sự tĩnh lặng, con người mới có thể đạt được những quyền năng khác thường. Sự yên lặng loại bỏ những chi phối của ngoại cảnh, và tạo ra một khoảng trống mà tư tưởng có thể tập trung. Khi tinh thần lúc nào cũng tập trung, bất cứ một tư tưởng nào nảy sinh cũng đều được khuếch đại lên. Và nếu tập luyện cẩn thận, một người thậm chí có thể làm được nhiều điều phi thường.

Từ đó tôi nghiệm thêm rằng sự nghỉ ngơi trong yên lặng vô cùng cần thiết cho những người hoạt động trí óc. Xã hội văn minh đã buộc con người phải quay cuồng làm việc để kiếm sống. Sau đó người ta tạo ra thêm nhiều loại hình giải trí để giúp con người thoải mái hơn. Nhưng đa số phương tiện giải trí lại còn ồn ào, náo nhiệt và quay cuồng hơn nữa, khiến thể xác mong manh vốn đã mệt mỏi lại còn phải chịu đựng thêm nhiều hơn những kích động thần kinh. Chẳng trách gì xã hội càng văn minh càng nảy sinh những căn bệnh thần kinh, sự khủng hoảng tinh thần hoặc những chứng bệnh nan y.

Tóm lại, con người đã thực sự không biết nghỉ ngơi. Nếu họ biết tìm một chỗ vắng vẻ, ngồi yên tập trung tinh thần, để cho thân thể tự thanh lọc các chất ô nhiễm cặn bã tạo ra bởi nhịp độ quay cuồng của hoàn cảnh xã hội, thì hẳn đã phòng ngừa được nhiều thứ bệnh tật.

Một cặp vợ chồng dân du mục ở Tây Tạng

***

– Tso! Tso! Pangong Tso!

Hai người dẫn đường reo lớn chỉ về phía trước. Trên cao nguyên mênh mông có một đống đá xếp cao như một kim tự tháp, điểm mốc nhân tạo này cho biết chúng tôi đã thoát ra khỏi hẻm núi. Và từ đây, người ta không chỉ nhìn thấy được hồ Pangong ở đằng trước.

Pangong Tso là một cái hồ kỳ lạ màu xanh biếc như ngọc, lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời như một tấm gương lớn. Chúng tôi ngả trại tại một trạm nghỉ dưới chân núi, cao hơn hồ một chút. Phong cảnh chung quanh tuyệt đẹp nên tôi quyết định ở lại đây ít hôm. Tôi rút tập giấy nhỏ và bắt đầu phác họa vài nét về phong cảnh miền này, để rồi không thể nào ngưng tay được. Có điều gì đó hấp dẫn, lôi cuốn khiến tôi say mê vẽ hết bức này đến bức khác. Tôi cởi bỏ chiếc áo choàng dày và đôi ủng nặng như đá, cảm thấy nhẹ nhõm khác thường. Tôi xê dịch chỗ này chỗ nọ, hòng tìm được những góc đẹp, và cứ thế họa lại tất cả những gì hấp dẫn nhãn quan của tôi.

Tôi không biết mình đã đi cách trại bao xa, chỉ biết mơ hồ “trôi” theo cảnh vật cho đến khi nhìn thấy một bầy ngựa hoang đang tụ tập gần đó. Đây là một giống ngựa đặc biệt có tên gọi là “Kyang”, thân hình chắc nịch với những chiếc bờm dài và bộ lông màu đỏ thẫm. Không như những loài ngựa hay được thuần hóa khác, giống Kyang vô cùng bất khuất và không chịu sự kiềm chế của bất cứ ai. Nếu bị bắt, ngựa Kyang sẽ không ăn uống cho đến chết. Tôi có nghe kể ngày trước hoàng đế Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn chỉ thèm có được một con ngựa lông đỏ này. Ông đã dùng đủ mọi cách để tạo giống loài ngựa này nhưng vô ích. Giống Kyang chỉ thích hợp trên thảo nguyên bao la rộng rãi và đặc biệt không chịu giao hợp với những loài ngựa khác.

Tôi rón rén đến gần bầy ngựa để quan sát cho kỹ. Đám hoang mã cũng ý thức sự hiện diện của tôi nên chúng ngẩng cổ lên thở phì phì như đe dọa. Tôi leo lên một ngọn đồi và tìm một nơi kín đáo, sửa soạn vẽ. Phong cảnh nơi đây thật lý tưởng, tôi có thể nhìn thấy cả vùng hồ rộng trong suốt trải dài phía dưới, cánh đồng cỏ rộng bao la với bầy ngựa đang thản nhiên chạy nhảy và xa xa là những rặng núi phủ đầy tuyết trắng.

Đó là một ngọn đồi dốc với rất nhiều tảng đá khổng lồ hình thù kỳ lạ. Một phía dốc thoai thoải nhưng phía quay ra hồ lại dựng đứng như một bức tường thành. Tôi đang mon men leo lên một tảng đá lớn thì bỗng hụt chân, tảng đá nghiêng sang một bên, kéo theo nhiều tảng đá khác khiến cả sườn đồi chuyển động. Trong giây phút bất ngờ, tôi vội tung người nhảy lên một tảng đá gần đó nhưng nó cũng nghiêng đi và lăn xuống dốc núi. Thì ra những tảng đá này chỉ được ghép tạm lên nhau nên chỉ một chấn động nhỏ cũng đủ làm tất cả rúng động dây chuyền. Hiểu được điều này, song do vẫn còn hoảng hốt, tôi lại cố vận sức nhảy lên một nơi khác. Cứ thế, cả ngọn đồi chừng như rùng mình, hàng chục tảng đá từ trên cao ùn ùn lăn xuống.

Ấy vậy mà trong hoàn cảnh đó, tôi lại thấy toàn thân nhẹ bẫng, nhịp chân bước không bằng những cử động bình thường nữa mà như được kiểm soát bằng một động lực kỳ lạ, một mãnh lực vô hình. Tôi thấy mình như đang mê ngủ, hai bên vách núi cát bay đá chạy mờ mịt nhưng thân hình tôi vẫn nhẹ nhàng ung dung vượt lách qua những tảng đá to lớn một cách dễ dàng. Tôi cảm nhận rõ chân mình bước lên những tảng đá đang di chuyển nhưng không hiểu sao cả thân hình không còn bị chi phối bởi trọng lực nữa. Có lúc tôi tưởng như sắp bị nghiền nát giữa những tảng đá khổng lồ nhưng chỉ một cái nhún chân, tôi đã tránh được hiểm nguy một cách dễ dàng. Đầu óc tôi trở nên mơ hồ, không biết mình đang mê hay tỉnh nhưng mắt vẫn thấy những tảng đá lăn xuống về phía hồ nước.

Một lúc sau chân tôi đã tìm được vị trí an toàn. Những tảng đá vẫn tiếp tục lăn xuống và khắp ngọn đồi cát bụi bay mù mịt. Chuyện gì đang xảy ra? Tôi đứng lặng người rồi cố tập trung niệm một bài thần chú cho tĩnh tâm. Đến khi tâm thần đã thật tịnh, tôi nhớ lại những diễn biến khi nãy và mơ hồ nhận ra mình vừa vô tình trở thành một lung-gom-pa, tức “người đi trên không”, hay “người đi trong mộng”. Ngày nay, nhiều người gọi nó là thuật khinh công.

***

Người Tây phương nghe nói đến thuật khinh công này lần đầu tiên qua một cuốn sách của bà Alexandra David–Néel(16), cuốn “Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng” (Mystics and Magicians of Tibet). Trong đó, bà David–Néel đã viết: “[…] Hôm đó, trong khi đang băng qua một bình nguyên rộng, tôi nhìn thấy một chấm đen đang di chuyển trước mặt. Tôi bèn lấy ống nhòm ra quan sát thì nhận ra đó là người Tây Tạng cao lớn đang di chuyển với một vận tốc khá lớn. Hai chân ông ta chuyển động gần như không chạm đất, còn chuyển động của thân hình thì hết sức nhẹ nhàng như người đang tản bộ. Khi đến gần, tôi thấy rõ khuôn mặt người này bình thản như đang ở sâu trong trạng thái thiền định, cặp mắt ông nhìn thẳng lên trời, như đang trụ cả vào một vị tinh tú nào đó. Ông ta không có vẻ vội vã, bước đi nhẹ nhàng đều đặn như quả lắc đồng hồ. Không hiểu sao cứ mỗi bước, thân hình ông lại bay bổng trên không trung như có một sợi dây vô hình nào đó dẫn dắt [...]”.

16 Alexandra David–Néel (1868–1969) là một học giả và nhà thám hiểm người Pháp–Bỉ. Bà nổi tiếng với những hành trình khám phá thế giới của mình, trong đó có chuyến đi đến Tây Tạng năm 1924, khi vùng đất này vẫn là vùng cấm với nhiều người nước ngoài. Cuốn “Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng” của bà cũng là một trong những cuốn sách được tác giả Nguyên Phong dịch sang tiếng Việt.

Phải chăng sự hoảng hốt của tâm trí khi nãy đã khơi dậy một tiềm năng huyền bí và thức động trạng thái đặc biệt của những đạo sĩ khinh công trong tôi? Vấn đề này khiến tôi lấn cấn mãi cho đến tận năm 1946, khi có dịp đến viếng tu viện Nyangto Kyi Phug và thấu hiểu bức màn bí mật đằng sau thuật di chuyển kỳ lạ đó.

Trong cuốn sách của mình, bà Alexandra David–Néel đã diễn tả rất đúng tình trạng của những đạo sĩ khinh công, phần “tập trung tư tưởng vào một vì tinh tú”. Tuy nhiên, phán đoán của bà cho rằng các đạo sĩ này đã sử dụng một loại dược thảo làm tê liệt thần kinh chân để tăng sức chịu đựng cho đôi chân trong cuộc hành trình đó lại không chính xác lắm. Nói như vậy thì chân họ phải sưng lên hoặc bị bầm dập, thâm tím bởi dược thảo hay chất kích thích chỉ tác dụng lên hệ thần kinh chứ không thể làm giảm khả năng tổn thương phần mềm; nhưng trường hợp xảy ra cho tôi tại hồ Pangong lại khác hẳn. Khi đó, tôi không hề thấy chân mình có dấu vết trầy xước nào.

Một số người cho rằng khinh công có thể luyện được qua việc huấn luyện thể xác, làm nảy nở các bắp thịt ở tứ chi và căng buồng phổi. Thực tế là luyện tập như thế chỉ giúp đào tạo ra các vận động viên nhảy sào, nhảy xa chứ không thể giúp di chuyển hàng trăm dặm đường, hay phóng qua các chướng ngại thiên nhiên một cách dễ dàng mà không bị tổn thương gì.

Ý nghĩa hàm sâu trong lung–gom, cũng như bao phép huyền thuật kỳ bí mà người văn minh thường đồn đại về Tây Tạng, thực ra chính là sự chế ngự hoàn toàn của tinh thần. Việc tập luyện đòi hỏi tính nghiêm ngặt, sự tách biệt tuyệt đối khỏi thế giới chung quanh, đồng thời kiên trì trì tụng các câu chú nhằm đạt được sự tập trung tinh thần cao độ, để phát động các chakra (luân xa) trong cơ thể vốn có kết nối với các nguồn năng lượng vũ trụ.

Ở đây, trong phạm vi thuật khinh công này, ta có thể cắt nghĩa từ “Lung–Gom” để diễn giải như sau:

+ “Lung” có nghĩa là không khí, là gió, cũng có nghĩa là tinh thần.

+ “Gom” vừa có nghĩa là tập trung tư tưởng (concentration) hay thiền định (meditation) nhằm tập hợp cả tâm trí lẫn tâm hồn lại, cùng hòa hợp thành một chủ thể duy nhất. Quá trình này tiếp diễn theo hướng dần dần làm trống tâm trí, xóa nhòa mối quan hệ giữa bản thể với xung quanh cho đến khi cả hai đạt được sự đồng nhất hoàn toàn, thành một kết tinh duy nhất là trạng thái ta đạt đến.

Tóm lại, Khinh công là một trong những phép luyện tập tư tưởng để làm thức động luân xa trong cơ thể con người và người luyện chỉ có thể tự mình khổ luyện thông qua chế độ luyện tập hết sức nghiêm cẩn để đạt được thành tựu.

Ở Tây Tạng có nhiều phương pháp tu luyện huyền bí mà khinh công chỉ là một. Nhờ sự tập trung, ý thức trong từng hơi thở mà người tu hành có thể chuyển hóa tâm và thân lên một mức độ cao hơn, thậm chí có thể làm những việc mà người bình thường cho là phi thường.

Nhưng việc đạt đến các trạng thái này có trái với giáo lý của đức Phật không?

Đối với một tu sĩ Nam Tông như tôi, thi hành giới luật là điều hết sức cần thiết và quan trọng. Không thể có việc đi trái với các giáo luật căn bản hay khác với điều đức Phật đã chỉ dạy. Do đó, tôi đã tìm hiểu với các vị Lạt Ma cấp cao và được giải thích rằng Phật giáo Tây Tạng không bao giờ đề cập đến việc tu luyện để đạt được thần thông như một mục đích ở bất cứ cấp độ nào.

Những trạng thái đạt được, dù được cho là phi thường hay bình thường đều chỉ là kết quả tự nhiên của việc tu thân cầu giải thoát. Khi chứng đắc một quả vị nào đó thì nghiễm nhiên người tu hành sẽ đạt được một mức thần thông tương ứng. Tuy nhiên, vì Tây Tạng vốn nằm ở vị trí đặc biệt với địa hình phức tạp, hiểm trở nên việc tu tập các phương pháp như Khinh công (lung–gom) giúp di chuyển dễ dàng hay Nhiệt công (tum–mo) giúp thân nhiệt cơ thể thích ứng với thời tiết lạnh lẽo, giá rét nơi đây được cho phép truyền dạy trong các tu viện như một phương tiện nhằm hỗ trợ sự tu luyện Phật pháp.

Hiểu một cách đơn giản thì Khinh công chỉ được xem như phương tiện trợ giúp các tu sĩ khi nhập thế phổ độ chúng sinh, sau khi đã hoàn thành quá trình rèn luyện tu tập của mình. Và những người sau khi đã đạt được những món tuyệt kỹ mà người đời thường ca tụng kia, họ cũng đạt được đến vô ngã.

Điều quan trọng cần nhấn mạnh tại đây là cả hai phương pháp Khinh và Nhiệt Công đều là những phép tu luyện rất cao, mà trong đó việc làm cho thân thể nóng lên hay nhẹ bổng để di chuyển chỉ là một phần không đáng kể. Dĩ nhiên có người chỉ nhắm đến việc sở hữu các quyền năng này mà không chú trọng đến mục đích gì cao xa hơn, nhưng họ sẽ thất vọng khi biết rằng việc tập luyện những phương pháp này đòi hỏi một ý chí cương quyết, một cá tính đặc biệt phi thường.

Lịch sử và điển tích Tây Tạng cho biết rất nhiều người đã tốn công nhọc sức để luyện thần thông, nhưng khi thành công thì họ nhận thức rằng cái mục đích nhỏ bé lúc đầu thật không xứng đáng với công phu tu hành bao năm tháng một chút nào.

Câu chuyện về Siddha Kadgapa (một trong 84 vị thánh tăng Tây Tạng) có thể xem là một ví dụ cho điều này:

Kadgapa xuất thân là một võ sĩ lừng danh, võ nghệ tuyệt luân, nhưng ngài vẫn không hài lòng mà muốn tìm một võ công tối thượng, không ai địch nổi. Ngài nghe nói trên đỉnh Tuyết Sơn có một tu sĩ kiến thức uyên thâm, điều gì cũng biết nên tìm đến để hỏi về môn võ công tuyệt thế đó. Trải qua mấy năm trời trèo đèo lội suối, cuối cùng Kadgapa gặp tu sĩ nọ. Tu sĩ cho biết: “Muốn luyện thành môn võ công tuyệt thế này thì phải đến một ngôi chùa gần đó, đi vòng quanh chùa trong vòng ba tuần lễ, nhưng trong lúc đi phải giữ hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát trong tâm, không được vọng động hay suy nghĩ bất cứ điều gì. Từng bước đi, từng hơi thở phải được kèm một câu chú để giữ mãi hình ảnh đức Bồ Tát trong tâm... Nếu thi hành đúng như thế thì đến ngày cuối, một con rắn đen sẽ xuất hiện trên bàn thờ Phật, khi đó ngươi phải chụp lấy con rắn đó giơ cao lên. Nếu ngươi thực hành đúng điều ta dạy, con rắn sẽ không hại ngươi; nhưng chỉ cần có một vọng động nảy sinh trong thời gian tu tập, dù chỉ xảy ra trong một sát na, con rắn độc sẽ giết ngươi tức khắc. Dĩ nhiên nếu sống sót, ngươi sẽ trở nên thiên hạ vô địch, không còn môn võ công nào địch lại với ngươi nữa”.

Kadgapa vâng lời tìm đến ngôi chùa cổ, với một định lực kiên cố và tâm thành cương quyết, ngài thi hành đúng theo lời chỉ dạy. Đến ngày cuối một con rắn đen tuyền ở đâu xuất hiện, Kadgapa đưa tay ra chụp lấy con rắn thì tự nhiên nó biến thành một thanh gươm báu sáng quắc. Thanh gươm đó chém tan bức màn vô minh khiến Kadgapa nhìn thấy thực tướng của sự thật. Trong giây phút đó, ngài đã ngộ. Kadgapa giơ lưỡi gươm lên cao và bật lên một tràng cười sảng khoái. Ngài đã luyện thành công môn võ công tuyệt thế, môn võ công để chiến thắng chính mình. Từ đó ngài đi khắp nơi truyền bá Phật pháp và được dân Tây Tạng gọi là Kiếm Thánh Kadgapa – Vị Thánh với Thanh Gươm Trí Tuệ.

Như vậy, có thể hiểu là muốn có thành quả tu tập, ta cần phải diệt ngã.

Người tu hành Tây Tạng diệt ngã bằng cách “chết đi sống lại”. Và việc này không hề đơn giản chút nào. Khi sống tại Nyang Kyi Phug, tôi thấy rõ phương pháp tu luyện tại đây quả không phải dành cho ai muốn cầu thần thông hay có những tham vọng cá nhân.

Khu vực tu luyện phép Khinh công ở tu viện Nyangto Kyi Phug là một vách đá với các thất tu hành được gọi là ts’hang–khang – nơi một người bước vào để thực hiện quá trình tu tập của mình. Và một khi đã bước vào đó, người tu tập xem như đã chết với phần còn lại của thế giới. Tên tuổi, gia đình, quê hương,… tất cả đều bị giữ kín, không ai được biết. Họ từ bỏ quá khứ và sau nhiều năm, đến khi rời khỏi ts’hang–khang, mọi mảnh của bản thể cũ đều bị quên lãng, cũng không ai biết được danh tính người đó nữa. Trong mấy chục năm ngồi quay mặt vào tường họ chỉ có một điều duy nhất là diệt bỏ bản ngã.

Nhưng làm sao diệt bỏ bản ngã? Ngồi quay mặt vào tường cũng là một cách làm gia tăng bản ngã, cũng như bất cứ một phương pháp nào cũng có thể làm gia tăng bản ngã, nếu người thực hành việc đó vẫn nuôi các vọng niệm trong tâm. Phương pháp tu tập ở Nyang To Kyi Phug được gọi là “chết đi sống lại nhiều lần”. Tôi được giải thích rằng khi thực sự kinh nghiệm sự chết, con người mới ý thức rõ rệt được tình trạng vô thường của đời sống, sự mong manh của bản ngã, cũng như các danh vọng hão huyền, và nhờ thế họ sẽ thanh lọc được bản ngã cá nhân, diệt bỏ lòng ích kỷ, và chỉ khi đó họ mới có thể học tập các phương pháp tu luyện khác.

Nhà thám hiểm Sven Hedin đã viết trong cuốn Abenieuer in Tibet như sau: “Đó là một căn phòng nhỏ, đục sâu trong núi đá. Nó không có cửa sổ hay bất cứ gì để cho ánh sáng hay tiếng động lọt vào. Khi một tu sĩ phát nguyện tu nhập thất, người ta nghiên cứu các niên lịch lạ lùng để tìm ngày giờ thích hợp. Tu sĩ được đưa đến căn phòng đó trong sự yên lặng, họ âm thầm đi như một đám ma. Tôi có cảm tưởng như họ bước thật chậm như để kéo dài thời gian mà vị tu sĩ kia có thể thở hít bầu không khí trong lành và ánh sáng mặt trời. Người tu nhập thất biết rằng họ đã lìa bỏ thế giới này vĩnh viễn để bước vào một thế giới khác. Một thế giới mà chỉ mình họ tìm cách sống với chính mình.

Khi cánh cửa dày được đóng lại, người ta xây luôn một bức tường mỏng ở bên ngoài để không ai có thể ra vào được nữa. Người nhập thất sẽ vĩnh viễn không nhìn thấy ánh sáng hay nói chuyện với bất kỳ ai. Khi cầu nguyện, họ chỉ nghe được tiếng vọng của chính mình. Nếu có nói lớn cũng chẳng ai nghe vì đối với thế giới bên ngoài, họ được coi như người đã chết. Sự liên lạc duy nhất giữa thế giới bên trong và bên ngoài là một lỗ hổng rất nhỏ để đưa thực phẩm vào. Thực phẩm là một bình nước lã và một mẩu bánh mì (tsampa), tuyệt nhiên không hề có một thức ăn nào khác.

Nếu sau bảy ngày mà đồ ăn không được đụng đến, người ta biết vị tu sĩ đã chết và chỉ khi đó người ta mới phá vỡ bức tường, đem thi thể tu sĩ đi chôn. Người tu không thể biết mình ở trong đó bao lâu, chỉ biết mùa đông đến khi khí hậu trở lạnh và mùa hè về khi khí trời oi bức hơn. Nhưng rồi họ cũng quên hẳn thời gian... Cặp mắt của họ không còn được sử dụng đã trở nên mù lòa, nhưng trong bóng tối, điều này không quan trọng nữa... Tai họ cũng không nghe được tiếng động nào trừ nhịp đập của trái tim, nhưng một hôm họ nghe thấy tiếng người gọi... và biết người mà mình mong đợi từ bao nhiêu năm đã đến: Tử Thần. Họ mở rộng vòng tay chờ đợi và khi sự chết không còn gì ghê gớm nữa, họ đã vượt ra khỏi sự sợ hãi tầm thường, họ đã chết đi và sống lại...”.

Dĩ nhiên Sven Hedin đã tiểu thuyết hóa việc này nhưng khi đọc tôi cũng không khỏi băn khoăn. Làm sao một người bình thường lại chịu giam mình trong một căn phòng tối tăm chật hẹp như vậy? Phật giáo không bao giờ chấp nhận các lối tu khổ hạnh và đức Phật đã giảng rất kỹ, nói rất nhiều về việc này thì tại sao Phật giáo Tây Tạng lại cho phép một lối tu hành kỳ lạ như thế?

Trong cuốn Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng, bà Alexandra David–Néel cũng tả rõ việc tu nhập thất nhưng không đi sâu vào chi tiết như Sven Hedin. Tuy nhiên bà xác nhận rằng các hang đá đó đều kín đáo, không có ánh sáng với những điều kiện vệ sinh vô cùng tối thiểu.

Những thắc mắc của tôi đều được giải đáp khi tôi sống ở Tây Tạng nhiều năm. Tôi được biết phong tục Tây Tạng không có việc “phát nguyện trọn đời” (eternal vow) như nhiều người đã diễn tả. Người nhập thất có quyền lựa chọn thời gian họ muốn như vài tháng hay vài năm, vài chục năm. Ngoài ra, căn phòng nhập thất đó được khóa lại ở phía bên trong chứ không phải bên ngoài. Cũng không hề có việc xây tường bít kín chôn sống người tu như Sven đã kể. Sở dĩ nó được khóa bên trong để người bên ngoài không làm phiền nhiễu người nhập thất, nhưng dĩ nhiên người bên trong có thể mở cửa đi ra ngoài bất cứ lúc nào họ muốn.

Điều này có lý và hợp với nhận xét của tôi vì Phật giáo chủ trương tất cả mọi vật đều thay đổi, không có gì trường tồn, bất biến. Ngay như lời phát nguyện trở thành một tăng sĩ cũng không có tính cách vĩnh viễn. Vì sau một thời gian tu hành nếu tăng sĩ không cảm thấy thích hợp, họ vẫn có thể hoàn tục một cách tự do. Đời sống tu hành không phải là một kỷ luật cứng nhắc, áp dụng cho tất cả, mà là một lối sống cho đúng với ý nghĩa của sự sống để thoát ra khỏi luân hồi sinh tử.

Theo ý kiến của tôi, Sven Hedin và bà David–Néel đều chịu ảnh hưởng của tôn giáo phương Tây nên đã đưa quan niệm “lời thề vĩnh cửu” vào cuốn sách của họ. Công trình khảo cứu của họ tuy hết sức giá trị nhưng vẫn còn nhiều thiên kiến, nhất là về những lý tưởng tội lỗi hay sự trừng phạt vĩnh cửu (eternal damnation) vốn hoàn toàn không hề có trong quan niệm của người Tây Tạng.

Khi thái tử Tất Đạt Đa phát nguyện tu khổ hạnh, Ngài hết sức tin tưởng rằng con đường này sẽ giúp Ngài tìm ra chân lý. Khi biết lối tu này không ích lợi gì, Ngài thản nhiên từ bỏ nó không hề có mặc cảm tội lỗi, và chính vì thế Ngài đã tìm ra con đường Trung Đạo. Theo sự hiểu biết của tôi, Phật giáo không hề có một kỷ luật nào bắt người ta phải theo một cách trọn đời. Việc tu nhập thất cũng như thế, vấn đề thời gian không hề được đặt ra và tu sĩ hoàn toàn tự do trong việc rời bỏ căn phòng đó theo ý muốn.

Sven Hedin đã viết: “Thời gian là yếu tố quan trọng, càng tu lâu càng đạt đến mức cao siêu nên nhiều người đã phát nguyện nhập thất đến trọn đời để đạt đến những mức độ cao nhất”. Tôi không đồng ý vấn đề này vì mục đích đạt được hoàn toàn là kết quả từ nhiều nguyên nhân khác chứ không phải thời gian, mặc dù thời gian cũng là một yếu tố quan trọng. Thời gian bốn mươi chín ngày thiền định dưới cội bồ đề của thái tử Tất Đạt Đa dĩ nhiên không thể so sánh với mấy chục năm công phu khổ hạnh của Ngài, nhưng kết quả cho thấy rõ một giây phút giác ngộ chắc chắn vượt xa hàng trăm năm ép mình trong việc hành hạ xác thân.

Tại Nyang To Kyi Phug, các căn phòng nhập thất được xây cất kín đáo nhưng nó không hoàn toàn thiếu ánh sáng như nhiều người vẫn nghĩ. Trên nóc nhà có một lỗ hổng đục ra để ánh sáng có thể lọt vào bên trong, một bàn thờ nhỏ được đặt trong góc phòng và đặc biệt hơn nữa là một chiếc tủ khá lớn đựng kinh điển cho các tu sĩ nhập thất đọc tụng. Vị Lạt Ma trụ trì cho biết những căn phòng này không phải nơi để trừng phạt hay giam hãm ai, mà là chỗ để các tu sĩ có thể thiền định trong yên lặng tuyệt đối. Căn phòng khá rộng đủ chỗ cho vị tu sĩ đi đứng hoặc cử động cho dãn gân cốt. Mặc dù việc tập khinh công chú trọng vào quyền năng ý chí nhưng nó không có nghĩa là tu sĩ có thể chểnh mảng việc gìn giữ thân thể cho khỏe mạnh.

Việc tập luyện dĩ nhiên được giữ bí mật và không tiết lộ cho tôi, nhưng khi sống tại đây tôi được biết có sáu tu sĩ đang nhập thất. Một người đã nhập thất sáu năm liền, những người kia khoảng từ hai tháng đến bốn năm. Vị Lạt Ma trụ trì cho biết thêm không một tu sĩ nào được phép nhập thất nếu không có sự chuẩn bị cẩn thận từ trước và được vị thầy hướng dẫn cho phép.

Trong cuốn “Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng”, bà Alexandra David–Néel đã viết: “Người ta có thể đánh giá trình độ của các tu sĩ luyện khinh công bằng cách đào một cái hố sâu khoảng bốn thước, trên miệng hố để một tấm ván có khoét một lỗ thủng vừa vặn cho một người chui lọt. Người luyện khinh công ngồi xếp bằng dưới hố rồi tìm cách nhảy vọt ra khỏi hố qua lỗ hổng của tấm ván, nhưng họ phải nhảy lên khi chân vẫn xếp bằng dưới hố và không được sử dụng bắp thịt chân hay tay”.

Điều này nghe dường như vô lý, vì làm sao người ta có thể xếp bằng mà có thể nhảy vọt lên cao được? Bà David–Néel viết tiếp: “Trước khi nhảy, đạo sĩ hít một hơi dài, lẩm bẩm đọc thần chú, hai mắt tập trung vào một điểm rồi tự nhiên thân hình họ cứ nhấc bổng lên cao như được một sợi dây vô hình nào kéo lên. Việc nhấc bổng thân hình lên khỏi mặt đất đã lạ lùng nhưng làm sao để thân hình giữ nguyên tư thế đó rồi chui qua cái lỗ nhỏ trên tấm ván còn lạ lùng hơn nữa. Dường như thân thể của họ không còn chịu sự chi phối của trọng lực nữa mà trở nên nhẹ nhàng như một luồng khói”.

Tôi không hề được chứng kiến việc này nên không có ý kiến. Nhưng ít lâu sau tôi được đọc tài liệu People of the Sun của giáo sư John Blofeld viết về những bộ lạc người Mèo tại phía bắc Thái Lan có những điểm trùng hợp lạ lùng: “Vị pháp sư ngồi trước đống lửa, miệng ngậm một cái gì không rõ. Ông chăm chú nhìn lên trên cao như đặt hết tâm hồn vào một điểm nào, bất chợt thân hình ông rung động rồi nhấc bổng lên không trung. Hai chân ông vẫn ngồi xếp bằng, hai tay xòe ra đằng trước, thân thể lửng lơ trên không khoảng vài giây rồi từ từ hạ xuống chỗ cũ. Tôi đứng yên không nói được câu nào, mồ hôi toát ra đầm đìa...”.

Cả hai tài liệu trên cho thấy rằng khinh công có thể xảy ra mà trong đó bắp thịt không hề được sử dụng. Tại sao thân thể con người có thể chống lại sức hút của trái đất? Khoa học chưa giải thích tình trạng khinh thân (levitation) và có lẽ vì chưa giải thích được nên khoa học đã phủ nhận nó.

Là một tu sĩ Phật giáo, tôi không có tham vọng giải thích sự việc này nhưng chỉ muốn biết môn khinh công được sử dụng vào việc gì và như vậy có đúng với điều đức Phật đã dạy hay không? Thời gian lưu lại tu viện Nyang To Kyi Phug đã giúp tôi đi đến kết luận sau:

Khinh công không phải một phương pháp làm thân thể nhẹ nhõm, mất trọng lượng để di chuyển như mọi người vẫn nghĩ. Việc di chuyển chỉ là một phần nhỏ trong phương pháp huấn luyện mà thôi. Như đã nói ở trên, muốn luyện thành môn khinh công thì phải diệt ngã và khi bản ngã không còn, con người sẽ trở thành một điểm tập hợp những sức mạnh lạ lùng khác. Trong thiên nhiên thường có những luồng từ điện rung động rất nhẹ nên con người không thể đón nhận được. Khi bản ngã được thanh lọc, con người sẽ có những rung động tương ứng với các luồng từ điện này và từ đó họ trở thành một cục nam châm có thể thu hút được các rung động tế nhị, thanh cao.

Vị Lạt Ma trụ trì tu viện Nyang To Kyi Phug cho tôi biết rằng trái đất nhận được rất nhiều năng lượng vũ trụ xuất phát từ những bầu tinh tú trong không gian. Tùy theo sự xê dịch của trái đất và những bầu tinh tú mà cường độ của luồng năng lượng vũ trụ tuyến mạnh hay yếu. Khi những bầu tinh tú nằm ở một vị trí nhất định nào đó, những luồng năng lượng vũ trụ rất mạnh sẽ được phóng xuống địa cầu. Dựa trên những niên dịch chiêm tinh cổ truyền, người ta có thể tiên đoán được địa điểm mà luồng năng lượng vũ trụ này rọi xuống.

Giáo lý bí truyền Tây Tạng tin rằng muốn đắc những đạo quả, nhất là những đạo quả cao thì một người khó có thể trông cậy vào tự lực nhỏ nhoi của mình, mà phải tự tìm cách chiêm cảm sức gia trì của những luồng thần lực lớn hơn. Do đó, từ ngàn xưa người Tây Tạng đã xây cất những cái tháp nằm ở tại điểm mà luồng năng lượng đặc biệt của vũ trụ sẽ rọi xuống. Đến đúng ngày tháng, một số tu sĩ thường đến đây lập những đàn tràng Mạn Đà La để thực hành nghi thức tu tập.

Vì các bầu tinh tú thường di chuyển, muốn tiếp nhận tối đa các luồng thần lực này đôi khi tu sĩ phải có mặt tại nhiều nơi liên tiếp trong một thời gian ngắn. Muốn thế họ cần một phương tiện di chuyển thật nhanh, có khi vài trăm dặm trong vòng một ngày. Môn khinh công được truyền dạy để sử dụng vào mục đích này chứ không phải vì điều gì khác.

Thời điểm luồng năng lượng vũ trụ rọi xuống mặt đất cũng như các địa điểm đặc biệt này được giữ vô cùng bí mật, chỉ những bậc trưởng lão mới biết. Phần lớn các tu sĩ chỉ được lệnh đến đó lập những đàn tràng Mạn Đà La, vẽ các linh phù và quán chiếu việc giữ cho Thân – Khẩu – Ý được trang nghiêm thanh tịnh. Danh từ Mạn Đà La có rất nhiều nghĩa nhưng có thể tạm dịch là một đàn tràng, nơi để người tu đến đó tĩnh tu: Đối với các bậc tu cao thì ngồi bất cứ chỗ nào thì cũng có thể biến chỗ đó thành một đàn tràng Mạn Đà La được, vì tâm lực các ngài đã mạnh, tạo thành những hào quang sáng chói biến chỗ đó thành một cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh. Đối với các tu sĩ chưa đủ tâm lực thì còn phải nương nhờ các luồng thần lực, các hình vẽ, nghi thức để tạo một không khí thanh tịnh để tu tập và quán chiếu.

Cũng như hầu hết các phương pháp tu luyện về Mật Tông, phương pháp này được giữ gìn hết sức bí mật, và sự lựa chọn cũng vô cùng khắt khe. Hàng trăm người được tuyển chọn nhưng chỉ vài người vượt qua các thử thách để nhập thất, và trong số hàng trăm người nhập thất chỉ có một vài người thành công.

Vị Lạt Ma trụ trì chùa Nyang To Kyi Phug còn cho biết thêm việc diệt ngã vô cùng quan trọng, vì nếu không thì tu sĩ khó tiếp nhận được luồng thần lực vĩ đại của vũ trụ trút xuống. Thử tưởng tượng một bình điện nhỏ bé mà nhận những luồng điện cao thế thì nó có thể bị cháy thành than.

Mặc dù địa điểm và thời gian những chỗ này không được tiết lộ cho tôi, nhưng tôi có nghe kể rằng sư trưởng Buton trụ trì chùa Shalu, tỉnh Shigatse cứ 12 năm một lần lại đem các đệ tử thân tín đến lập những đàn tràng tại bảy ngọn tháp hẻo lánh miền U Tsang và Tsang Tang. Thời gian lập đàn tràng này chỉ kéo dài trong vòng 24 giờ, trong khi địa thế U Tsang và Tsang Tang xa nhau gần một ngàn cây số. Nếu không có khinh công thì không ai có thể di chuyển nhanh như vậy được.

Tóm lại, theo sự hiểu biết của tôi thì khinh công chỉ là phương tiện trợ giúp các tu sĩ chứ không phải mục đích. Dĩ nhiên sau khi tu tập thành công, các tu sĩ còn phải làm nhiều việc khác như nhập thế phổ độ chúng sinh hay đi chữa bệnh tùy theo tâm nguyện của họ.

Việc chữa bệnh của các đạo sư không phải là một điều xa lạ gì đối với người Tây phương. Chính đức Chúa Jesus cũng đã từng làm phép lạ này để mang lại niềm tin cho các tín đồ. Đức tin và quyền năng chữa bệnh liên hệ với nhau vô cùng chặt chẽ. Đức tin là khả năng nhận lãnh, quyền năng chữa bệnh là khả năng chuyển vận những luồng thần lực vào người khác để giúp họ điều hòa cơ thể.

Một điểm quan trọng cần nêu lên ở đây, người chữa bệnh chỉ là một con đường vận chuyển, một chất xúc tác, một động cơ để những luồng thần lực thiên nhiên tác động. Họ không phải là người sở hữu quyền năng đó. Một tu sĩ đã diệt ngã không bao giờ vỗ ngực xưng là đấng này, đấng nọ hay khoe khoang về một quyền năng nào cả.

Quan niệm của đa số mọi người đều cho rằng quyền năng là một cái gì có thể sở hữu, một phép lạ, một cái đũa thần chỉ đá hóa vàng, hô phong hoán vũ hay bay nhảy trên không trung. Tóm lại, khi sở hữu quyền năng thì họ có thể làm bất cứ điều gì theo ý muốn. Đó là quan niệm ấu trĩ xuất phát từ trí tưởng tượng và lòng tham lam ích kỷ. Đối với họ, thế giới này là một cái gì phiền phức, một chướng ngại cho cái bản ngã của họ nên họ phải tìm cách thay đổi nó để hợp với ý mình. Đi xa hơn nữa, quan niệm này bắt nguồn từ cái bản ngã kiêu căng, nó nghĩ rằng nó có thể đạt được những gì nó muốn, mà nó thì muốn rất nhiều. Vì không thể thỏa mãn cái tham vọng điên cuồng đó nên nó nghĩ rằng nó cần phải có thêm quyền lực, một thứ quyền lực siêu nhiên do chính nó tưởng tượng ra và gọi là quyền năng.

Một người nhập thất bắt đầu bằng việc quán chiếu tánh không (void) để diệt ngã vì họ biết rằng tất cả thế giới này chỉ là huyễn, không thật. Do công phu tu hành mà họ ý thức rằng quyền năng lớn lao nhất mà họ có thể sở hữu được là việc kiểm soát, chinh phục cái bản ngã của chính mình. Khi cái ngã không còn, họ không còn thấy thế gian này là một cái gì phiền phức, một thực thể cách biệt với họ nữa mà tất cả chỉ là một. Khi mình và thế gian không còn sai khác, không còn phân biệt thì đời sống trở nên thực tiễn hơn, và tất cả mọi sự tầm thường nhất, nhỏ bé nhất đều trở nên mầu nhiệm lạ lùng.

Việc chữa bệnh thường được coi như một phép lạ vì nó không được giải thích một cách hợp lý. Thực ra quyền năng này chỉ là sự phối hợp những động lực thiên nhiên một cách trực tiếp. Khi bị bệnh, thân thể con người thường bị xáo trộn do những nguyên nhân khác nhau. Nếu bệnh nhẹ thì chỉ tĩnh dưỡng ít lâu, cơ thể lại có thể hồi phục vì người nào cũng có cái khả năng tự chữa bệnh, tự làm điều hòa cái trật tự sẵn có nơi mình.

Bệnh nặng là khi thân thể họ không đủ sức tái lập cái trật tự ban đầu nữa nên lâm vào tình trạng mất quân bình. Điều này có thể ví như một bình điện bị yếu, không đủ sức làm sáng một ngọn đèn. Quyền năng chữa bệnh là sử dụng những năng lực thiên nhiên rất mạnh để tái lập trật tự giống như việc tiếp điện cho một bình điện đã yếu.

Trong việc chữa bệnh này, đức tin đóng vai trò như một chất dẫn điện, vì luồng điện chỉ có thể được truyền đi nếu có chất dẫn điện. Tóm lại, quyền năng chữa bệnh chỉ hiệu lực khi có đức tin, dù đó là đức tin của một quyền năng nào, một cá nhân hay một lý tưởng trừu tượng nào.

Chẳng hạn như Hòa thượng Tomo sau một thời gian dài nhập thất, ngài đã trở lại thế gian truyền bá giáo pháp và chữa bệnh. Nhiều người đã kể rằng ngài chỉ cần đặt tay lên trán một người bệnh, cũng có thể làm họ khỏi bệnh tức thì. Đôi khi ngài cũng thường phát cho mọi người một loại thuốc viên do chính tay ngài bào chế. Những viên thuốc này có giá trị vô cùng lớn lao và quý hơn ngọc, nhưng vì ngây thơ tôi không biết đến giá trị của chúng. Khi từ giã, Hòa thượng Tomo có trao cho tôi ba viên thuốc nhỏ để đề phòng khi hữu sự nhưng ít lâu sau, tôi đã tặng Sherab Thubden hai viên vì thấy ông đã già lại hay có bệnh. Tôi nghĩ rằng dù tốt đến đâu, đây cũng là một viên thuốc như trăm ngàn viên thuốc khác, nghĩa là có thể mua được. Mãi về sau tôi mới biết giá trị của những viên thuốc này.

Vào khoảng 1959, tôi có ghé qua Rampur, thủ đô của tiểu quốc Bashar. Đây là một thành phố mà tất cả dân chúng đều theo Ấn Độ giáo, nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy giữa thủ đô tráng lệ lại có một ngôi chùa Tây Tạng. Khi vào hành lễ, tôi thấy có cả một pho kinh Kabjur và Tanjur bày biện cẩn thận bên cạnh những cối kinh. Tôi được vị Lạt Ma trụ trì kể rằng chính tiểu vương Rampur Maharaja đã cho xây ngôi chùa này để hoàn thành một tâm nguyện với một vị Lạt Ma Tây Tạng.

Tiểu vương Maharaja mặc dù có nhiều vợ nhưng không hề có con. Dĩ nhiên nếu không có người nối dõi thì triều đại của dòng họ Rampur sẽ tuyệt tự nên ông rất lo. Ông đã đi khắp nơi cầu xin với các tu sĩ Bà La Môn nhưng không có kết quả.

Năm đó, một vị Lạt Ma Tây Tạng có việc đi qua tiểu quốc Rampur. Vì tiếng tăm của vị này vang lừng nên dân chúng khắp nơi kéo đến đón tiếp ngài rất trọng hậu. Nhà vua bèn cho mời ngài đến cung điện để hỏi về tình trạng không người nối dõi của vua. Vị Lạt Ma suy nghĩ rồi đưa ra ba điều kiện: điều thứ nhất xin vua bãi bỏ thuế khóa cho dân trong vòng ba năm, điều thứ hai xin vua xây dựng một ngôi chùa nhỏ để ông tĩnh dưỡng mỗi khi có dịp qua đây và điều thứ ba xin vua cho thỉnh những bộ kinh quý giá của Tây Tạng lưu trữ nơi đây để sau này có dịp sử dụng. Dĩ nhiên nhà vua chấp thuận và ngôi chùa Tây Tạng được xây cất ngay bên cạnh cung điện của vua. Vị Lạt Ma nhập thất trong một thời gian và sau đó ông đưa cho nhà vua một lọ thuốc nhỏ. Một năm sau, nhà vua có con trai nối dõi tông đường. Giữ đúng lời hứa, vua cho người thỉnh những bộ kinh điển của Tây Tạng cất giữ nơi đây, và ngôi chùa Rampur hiện nay là nơi cất giữ rất nhiều kinh điển xứ này.

Tôi không nén lòng được nên hỏi ngay vị Lạt Ma trụ trì:

– Thế vị Lạt Ma đó tên gì?

– Người ta thường gọi ngài là Hòa thượng làng Tomo. Thỉnh thoảng ngài vẫn ghé qua đây mỗi khi có dịp đi lên rặng núi Kailas.

Trong suốt thời gian du hành qua Tây Tạng, tôi đã được nghe rất nhiều về công lao của Hòa thượng Tomo. Gần như nơi nào ghé đến ngài cũng thuyết pháp độ sinh, chữa bệnh cho những người không thể chữa được và đem lại niềm tin cho hàng trăm ngàn người sống dọc theo dãy Tuyết Sơn.

Tại thành phố Poo, tôi nghe nói một thiếu nữ bị liệt từ nhỏ không thể đi đứng được đã được ngài chữa khỏi. Khi người ta mang cô này đến trước mặt ngài, thì tự nhiên cô ta ngồi bật dậy chắp tay niệm Phật như chưa từng đau ốm bao giờ. Lúc chúng tôi ghé qua Poo thì cô gái đó vẫn còn sống và dân chúng trong làng xác nhận rằng họ đã chứng kiến rõ ràng quyền năng chữa bệnh của Hòa thượng Tomo. Tôi không nghi ngờ chút nào về khả năng chữa bệnh của ngài, vì tất cả những người xung quanh dãy Tuyết Sơn người ta đã nói đến ngài với một sự sùng kính sâu xa. Ngay cả sau khi ngài nhập diệt, người ta vẫn thường nhắc nhở đến ngài như một vị đạo sư hướng dẫn và mang lại niềm tin cho tất cả mọi người. Dĩ nhiên, thói thường người ta vẫn hay thêu dệt nhiều huyền thoại vào một người nổi tiếng nào đó. Nhưng Hòa thượng Tomo đã là một huyền thoại ngay khi ngài còn sống, vì tất cả những ai gặp ngài, được nghe ngài thuyết pháp đều công nhận rằng ngài là một trong số rất ít vĩ nhân đã xuất hiện trên địa cầu này.

Cuộc đời của Hòa thượng Tomo là một bằng chứng hùng hồn rằng, kinh nghiệm tâm linh là một kết quả hiển nhiên qua công phu tu hành, chứ không phải một điều trừu tượng dựa trên lý thuyết hay một cái gì cao xa mà không ai có thể đạt đến được.

Phật giáo Tây Tạng không quan niệm các tăng sĩ phải là người có tài ăn nói hùng hồn để rao giảng các giáo điều, mà chủ trương rằng chính cuộc đời của các tăng sĩ phải là những tấm gương sáng để mọi người chung quanh nhìn vào đó soi chung, hay là một bằng chứng hiển nhiên rằng con đường thoát khổ, an nhiên tự tại là điều có thể đạt được. Một tu sĩ nhập thất mặc dù không hề thốt lên câu nào, nhưng chính sự hiện diện của một người như vậy có thể khiến những người khác phấn khởi, phát tâm tu hành, làm lành lánh dữ.

Đối với đa số mọi người, nhập thất là một hình phạt nặng nề. Không mấy ai có thể chịu đựng sự cô lập kéo dài quá lâu như vậy. Nhưng nếu ai đã nhập thất mà không hề hấn gì thì hẳn họ phải sở hữu một tinh thần dũng mãnh, kiên cường vượt xa người thường. Cái tinh thần đó không phải là một bộ óc trơ trơ như gỗ đá, mà là một tinh thần phóng khoáng, tự do, phản ánh một nội tâm phong phú trải qua bao ngày tháng rèn luyện, quán tưởng.

Có lẽ vì thế, người Tây Tạng thường hết sức kính trọng các tu sĩ nhập thất, những người có can đảm sống một mình nơi rừng sâu núi thẳm, hơn là những tu sĩ hoạt bát miệng nói trơn tru trong những ngôi chùa lộng lẫy. Chỉ những người đã tự chiến thắng chính mình, đã tự khắc phục hoàn cảnh chung quanh, đã có một nội tâm phong phú và lòng dũng mãnh tuyệt vời, mới dám bước vào cái thế giới bên trong. Muốn bước vào thế giới này, họ phải có những chìa khóa đặc biệt để tháo mở những lần cửa đóng then cài, để có thể bước đi mà không sợ lầm lạc, và sống trong cái thế giới nội tại này mà vẫn không quên sợi dây thân ái với bao chúng sinh đang si mê lầm lạc bên ngoài.

Cái chìa khóa đặc biệt để bước vào thế giới nội tại là việc thực hành thiền định dưới sự chỉ dẫn của một bậc chân sư. Qua những câu chú bí truyền, người tu có thể liên lạc với các vị thầy, và qua sự thực hành thiền định, họ bước vào cái thế giới bên trong, quán chiếu các cảnh giới để hòa nhập vào hải hội của chư Phật, chư Bồ Tát.

Mặc dù tu sĩ ngồi yên bất động nhưng thật ra tâm thức họ hoạt động vô cùng mãnh liệt. Họ không ngồi chờ phép lạ xảy đến hay một linh ảnh nào xuất hiện như nhiều người thường diễn tả. Họ cũng không cầu xin hay ao ước một điều gì như nhiều phương pháp đã đề cập. Phật giáo Tây Tạng nhấn mạnh đến ba điều căn bản khi thiền định là phải luôn luôn quán tưởng đến tánh Không để diệt ngã, mở rộng lòng từ bi để giữ sự liên hệ với pháp giới chúng sinh và giữ tâm vô sở cầu để tránh gặp ma chướng.

***

Chúng tôi tiếp tục di chuyển trên bình nguyên Aksai. Bầu trời xanh ngắt không một gợn mây, chung quanh tôi là những rặng núi chập chùng với muôn hình vạn trạng. Có những ngọn núi đá vôi hình thù kỳ dị do sự xói mòn của gió cát và thời gian. Có những đồi cát vàng nhấp nhô hắt lên những màu sắc chói lọi làm tôi choáng váng, ngộp thở. Đôi khi tôi có cảm giác như đang đi trong một thế giới bị đảo ngược vì ánh sáng mặt trời phản chiếu trên cát rực rỡ đã át cả bầu trời xanh thẳm.

Khi bóng đêm vừa xuống thì những tinh tú hiện ra lấp lánh dầy đặc trên nền trời. Trong màn đêm bao la người ta nhìn thấy những ngôi sao đổi ngôi, những đốm sáng lạ lùng xuất hiện trên bầu trời, và vũ trụ không còn là một cái gì trừu tượng nữa, mà là một kinh nghiệm trực tiếp với nhịp điệu thiên nhiên huyền diệu.

Sự cô liêu tĩnh lặng mang lại những thay đổi lạ lùng trong tâm thức con người. Người ta thấy gần gũi hơn, thân mật hơn với thiên nhiên và hình như giữa mình và thiên nhiên không hề có sự phân cách. Dưới bầu trời bao la của muôn ngàn tinh tú, đầu óc con người trở nên mẫn cảm và mở rộng. Những tư tưởng chật hẹp, ích kỷ tự nhiên biến mất, mà tất cả chỉ là một sự ngạc nhiên kỳ thú trước những đổi thay màu nhiệm của thiên nhiên.

Tôi còn nhớ những ngày thơ ấu sống bên rặng Andes ở quê nhà, tôi vẫn thường chiêm ngưỡng rặng núi uy nghi sừng sững trải dài từ phía xa xa và ước mong sẽ có ngày được thám hiểm nó. Tôi mơ ước thành nhà leo núi thiện nghệ vượt cao nguyên Queschila để leo lên đỉnh Cochachamba, hay mạo hiểm vượt qua những khu rừng rậm tìm mỏ vàng, mỏ bạc rải rác quanh rặng Andes.

Khi lớn lên, tôi thấy mình không còn muốn khai khẩn những khu rừng nhiệt đới nữa, mà chỉ muốn khai phá đào sâu vào nội tâm của chính mình. Thay vì học kỹ sư mỏ tôi ghi tên học triết. Nhưng đầu óc mạo hiểm của tôi không cho phép tôi đi theo một hệ thống triết học nào, mà thúc đẩy tôi đi tới không ngừng trên con đường tìm Chân – Thiện – Mỹ. Từ tư tưởng Platon tôi say mê Schopenhauer, và từ Thần học tôi đâm ra say mê Siêu hình học... Ngay từ năm đầu đại học, tôi đã bắt đầu viết những bài tiểu luận đối chiếu tôn giáo như một hình thức làm sáng tỏ đầu óc còn non nớt của tôi. Tôi không muốn đi theo một con đường nào, một tôn giáo nào chỉ bởi vì cha mẹ hay xã hội tôi đang sống chấp nhận nó. Thay vì tin tưởng, tôi muốn hiểu biết cặn kẽ trước khi chấp nhận; và thay vì chấp nhận, tôi muốn sống với nó, thở với nó, hòa nhập với nó. Phật giáo đã mở cho tôi một chân trời rộng rãi, đây là tôn giáo duy nhất mà tôi được biết không đòi hỏi một đức tin tuyệt đối, không có một đấng tối cao cầm cân thưởng phạt, mà là một lối sống tự do, phóng khoáng thích hợp với tôi hơn cả.

Tại đại học Naples, tôi thường xuyên nghiên cứu và học hỏi những sách vở viết về Phật giáo. Vì số sách được phiên dịch còn rất ít nên tôi phải tự học tiếng Pali để có thể tìm hiểu thêm về tôn giáo này. Ít lâu sau tôi đến Sri Lanka thọ giới với Đại sư Nyanatiloka Mahathera, một học giả uyên thâm về Pali lúc đó. Tôi sống tại tu viện Polgasduwa, vừa học hỏi truyền thống Phật giáo Nam Tông vừa nghiên cứu và dịch thuật sách vở Pali ra các ngôn ngữ khác. Cuộc sống tu hành êm đềm này kéo dài nhiều năm nhưng tôi vẫn thấy thiếu thốn thứ gì không thể diễn tả. Điều tôi khám phá được ở Yi Gah Cholin đã mở ra một chân trời rộng rãi bao la, để từ đó tôi có thể ý thức rõ rệt ý nghĩa nhiệm màu của sự sống.

Trên bình nguyên bao la rộng lớn, nơi bầu trời đêm trong vắt ánh sao, một hồ nước bao la thỉnh thoảng lại dợn sóng theo đường gió và xa xa là những rặng núi trầm mặc, tôi ngồi bên đống lửa ấm áp và chợt thấy mình chừng như sống mà lại như chưa hề sống bao giờ. Tôi nhìn hai người bạn đồng hành đang say ngủ bên cạnh bầy ngựa, một niềm vui lạ lùng như thấm vào làn da thớ thịt. Tôi nhủ thầm hạnh phúc quả không thể tìm kiếm trong lầu son gác tía, trong sự thỏa mãn của danh vọng điên cuồng hay thói vị kỷ được, đó phải là những giây phút mà người ta thực sự sống, thật sự chiêm ngưỡng sự sống.

***

Tôi đặt bức tượng Phật mà Hòa thượng Tomo đã trao cho lên một tảng đá lớn rồi tập trung tinh thần vào đó. Tôi không biết mình đã đắm mình trong cơn đại định bao lâu nhưng bầu trời đột nhiên đổ mưa, những giọt mưa nhỏ rơi xuống thấm qua làn áo lót vào da thịt như những ân huệ thiêng liêng nào đó.

Tây Tạng với những rặng núi hiểm trở quanh năm tuyết phủ, những cánh đồng bao la bát ngát, những kỳ hoa dị thảo và những tu sĩ ẩn mình trong động đá, đã trở thành đề tài của không biết bao nhiêu huyền thoại. Ngay những quốc gia láng giềng như Trung Hoa, Ấn Độ, Afghanistan hay Mông Cổ cũng đều lưu truyền những giai thoại về “xứ tuyết” này.

Lịch sử Trung Hoa kể rằng Lão Tử làm quan nhà Chu, khi thấy triều đình suy thoái, ông từ quan cưỡi một con trâu nhắm hướng tây (Tây Tạng) mà đi. Khi đến biên giới, quan giữ ải thiết tha mong ông giữ lại chút kiến thức uyên thâm của mình truyền cho hậu thế, ông bèn viết cuốn Đạo Đức Kinh gửi lại cho đời sau rồi tiếp tục hành trình. Người ta tin rằng ông đã nhập thất tu đạo, luyện đơn trên đỉnh Tuyết Sơn.

Một nhân vật lịch sử khác, tổ Bồ Đề Đạt Ma sau khi truyền bá Thiền Tông tại Trung Hoa đã nhập tịch, xác được nhập tháp tại núi Hùng Nhĩ. Nhưng ít lâu sau người ta lại thấy ngài tay cầm một chiếc dép phi hành qua đỉnh Thông Lãnh về phương Tây (Tây Tạng). Vua Trang Đế nghe chuyện kể đã truyền lệnh mở tháp ra coi thì thấy bên trong chỉ còn một chiếc dép. Nhà vua cho đưa chiếc dép đó về thờ ở chùa Thiếu Lâm.

Ấn Độ cũng có rất nhiều giai thoại kể rằng các thánh nhân, đạo sĩ xứ này cũng thường ngộ đạo hoặc được điểm hóa bởi các đạo sư tu trên đỉnh Tuyết Sơn. Vì thế, ngày nay vẫn thấy nhiều đạo sĩ hành hương lên phía bắc như bị một sức mạnh vô hình nào đó lôi cuốn.

Hiển nhiên Tây Tạng phải có một cái gì khác thường mới thu hút được những người như vậy. Phải chăng vì nằm ở một vị trí biệt lập, xa cách các quốc gia nên Tây Tạng vẫn còn gìn giữ được tinh hoa của một nền văn minh tôn giáo từ thuở ban sơ?

Nếu Tây Tạng có những tinh hoa đặc biệt thì tại sao người ta không thể tìm được nó tại các tu viện to lớn như Sera, Drepung hay Ganden hoặc trong sách vở cất giữ trong các thư viện tại Lhasa?

Trước khi đi xa hơn, chúng ta cần biết rằng tôn giáo nào cũng thường chia làm hai phần: Công truyền (Exoteric) hay Hiển giáo, và Bí truyền (Esoteric) hay Mật giáo. Phần công truyền được đề cập rõ rệt trong các kinh điển, sách vở, các bộ luật và luận; nhưng phần bí truyền chỉ được truyền dạy cho một thiểu số chọn lọc trong vòng bí mật. Các kinh điển chỉ đề cập đến phần này một cách hết sức lờ mờ, không rõ rệt. Do đó, người ta chỉ có thể học hỏi qua hình thức khẩu truyền với các bậc tu chứng ẩn mình trong những hang động hẻo lánh. Nhưng tại sao các tu sĩ này không xuất hiện truyền dạy chân lý mà lại ẩn mình nơi non cao núi thẳm?

Cuộc du hành lên Tuyết Sơn đã giúp tôi tìm được câu trả lời. Chân lý không phải là thứ để mang ra tuyên bố một cách ồn ào, hời hợt trên đầu môi chót lưỡi. Đó là điều mà người ta chỉ có thể thấu suốt bằng trải nghiệm và do vậy, chỉ có ngôn ngữ thì khó mà diễn tả hết các chiều kích của nó. Hơn nữa, không phải người nào cũng có kinh nghiệm như nhau.

Tùy căn cơ mà người ta nghiệm vấn đề theo những cách khác nhau, đôi lúc điều một người tưởng như chân lý vĩnh cửu lại chỉ là một ảo ảnh, một hư vọng của tâm thức, tưởng như thật mà không phải thật. Có khi đứng trước một sự thật, người ta đâm ra bàng hoàng sợ hãi mà không dám nhìn thẳng vào nó, không dám đối đầu với nó. Thói thường ở đời, mọi người chỉ thích nghe, thích nhìn những gì hợp với mong ước của mình chứ không muốn nhìn thẳng vào sự thật. Đó cũng là lý do các bậc tu chứng ít xuất hiện và chỉ dạy dỗ cho một thiểu số người thiết tha cầu đạo, có căn cơ vững chắc, có đủ dũng khí để nhìn thẳng vào sự thực – cuộc đời và chính bản thân.

Vị trưởng tu viện Lachen, thường được biết đến với danh xưng “Gomchen của Lachen” là một trong những điển hình của những bậc tu chứng nổi tiếng của Tây Tạng lúc bấy giờ. Ngài nhập thất trên đỉnh một ngọn núi cực kỳ hiểm trở, mặc dù rất ít tiếp xúc với ai, nhưng hầu hết các tu sĩ trên dãy Tuyết Sơn đều coi ngài như một vị chân tu đã đắc những đạo quả rất cao.

Khoảng ba mươi năm trước, Bá tước Ronaldshay (sau trở thành Hầu tước Zetland), nguyên thống đốc vùng Bengal, Ấn Độ từng viết về ngài trong cuốn “Miền đất kỳ lạ” (Land of Thunderbolt) như sau: “Suốt hơn hai mươi sáu năm liền, ngài có thói quen thỉnh thoảng lại tự cách ly khỏi thế giới để tĩnh tu trong một hang động hẻo lánh với một số lương thực tối thiểu. Cái động năng thúc đẩy con người rời bỏ tất cả để sống trong cô tịch, chịu đựng tất cả những thay đổi khắt khe của thời tiết, để quán tưởng về sự giải thoát quả thực hết sức phi thường và đáng kính phục”.

Danh tiếng sư trưởng Lachen vang lừng đến độ một người Âu khác không quản đường xa vạn dặm đã đến tận nơi để cầu đạo. Sư trưởng Gomchen Lachen chỉ vào một hang đá gần đó nói: “Chỉ khi nào ngươi có thể tĩnh tu ba năm liền trong hang đá đó thì ta mới dạy bảo cho ngươi”. Người nọ chấp nhận điều kiện, nhập thất trong ba năm liền rồi được sư trưởng Lachen nhận làm đệ tử.

Đó không ai khác hơn là bà Alexandra David–Néel, nhà thám hiểm người Pháp mà những cuốn sách viết về Tây Tạng đã làm say mê độc giả khắp thế giới. Tôi có thể nói rằng có lẽ thế giới biết đến Tây Tạng một cách đúng đắn, chính xác là nhờ công trình biên khảo công phu, giá trị của người phụ nữ này. Phần lớn sách của bà đều được dịch ra nhiều ngôn ngữ và luôn là những tài liệu vô cùng đáng giá với giới nghiên cứu chúng tôi.

Khoảng thời gian tu học dưới sự chỉ dẫn của sư trưởng Lachen đã giúp bà có một lượng kiến thức hết sức sâu rộng về phong tục, ngôn ngữ cũng như các hiện tượng siêu nhiên huyền bí của Tây Tạng. Giá trị của kho tư liệu này càng được tăng thêm khi thông qua chúng, những “di sản” của sư trưởng Gomchen Lachen được truyền lại cho thế gian.

“Di sản” ở đây chính là khả năng khai mở cho thế giới để người khác nhìn thấy cái kho tàng tâm linh từ lâu vẫn được cất giấu cẩn thận tại Tây Tạng. Tôi nghĩ rằng nếu không có ý định đó thì chưa chắc ngài đã nhận bà David–Néel làm đệ tử và dạy dỗ, huấn luyện cho bà này.

Một bậc ẩn tu không nhắm mắt quay mặt vào tường (diện bích) để trốn tránh thế gian, mà các ngài đã nhận thức rõ rệt về thế gian như chính bản thể của nó và nhờ vậy, họ sống thường trực trong thế giới đó. Chính chúng ta vì mê đắm nên mới quan niệm mình và thế giới luôn tách biệt, từ đó nảy sinh ý tưởng “trốn chạy” hoặc “theo đuổi” nó.

Trong cuốn “Hành trình đến Lhasa” (Journey to Lhasa), bà David–Néel đã viết: “Tâm trí và giác quan của tôi đã hoàn toàn thay đổi nhờ sự quán chiếu nội tâm. Phải chăng do tôi mẫn cảm hơn hay đến lúc đó tôi mới bừng tỉnh và nhận thức được những nhiệm màu của sự sống?”.

***

Vượt qua cao nguyên Aksai, chúng tôi đã đến trung tâm của rặng Tuyết Sơn. Từ đây đi về phía nam, tôi có thể đến ngọn Kailas(17) linh thiêng hoặc chọn rẽ theo hướng đông nam, tiếp tục theo rặng Tuyết Sơn để đến đỉnh Thangu thuộc tiểu quốc Sikkim(18), nơi sư trưởng Gomchen Lachen ẩn tu.

17 Đây là một ngọn núi thuộc rặng Transhimalaya – dài 1.600 km và chạy song song theo suốt chiều dài rặng Himalaya chính. Nó ở gần nơi bắt đầu của nhiều con sông lớn ở châu Á.

18 Ngày nay là vùng Sikkim của Ấn Độ, nằm ở mặt nam của Tây Tạng. Hành trình của tác giả cho đến lúc này đúng là theo dọc hệ thống rặng Tuyết Sơn.

Sau mấy tuần lễ trèo đèo lội suối, chúng tôi dừng chân trước một ngọn núi cao ngất phủ đầy tuyết trắng: đỉnh Thangu. Từ chân núi chúng tôi men theo những con đường mòn nhỏ hẹp quanh co mới leo lên được đến đỉnh. Gió lạnh rít lên từng chập, tuyết phủ ngập lối đi, người ta không thể làm gì hơn là cắm cúi tiến bước. Một ý nghĩ, dù chỉ một ý nghĩ muốn nghỉ ngơi trong chốc lát cũng có thể khiến ta dừng chân và rồi chết cứng trong làn gió lạnh ghê hồn từ đỉnh Thangu phả xuống.

Gần nửa đêm, chúng tôi đến một căn nhà nhỏ xây sát vách núi. Đây là căn nhà được xây cất để cho những đệ tử của Gomchen Lachen tạm trú mỗi khi đến thăm ngài. Từ đó người ta có thể nhìn thấy hang động của sư trưởng Lachen cách đó không xa, có điều khi đến nơi thì chúng tôi đã mệt nhoài. Tôi quyết định tạm nghỉ ở đây qua đêm trước khi diện kiến ngài.

Như thường lệ, trước khi ngủ tôi ngồi yên xếp bằng nhập định và trì tụng những bài chú. Bỗng nhiên có một sự kiện lạ lùng xảy ra, tôi có cảm tưởng như một sức mạnh vô hình ở đâu từ từ xâm chiếm lấy đầu óc và khiến tôi mất tự chủ, không thể tập trung tư tưởng được nữa. Tôi nhận ra ngay đó chính là sức mạnh tư tưởng của sư trưởng Lachen. Ngài đang chú ý đến tôi, nhưng luồng tư tưởng của ngài quá mãnh liệt nên nó đã xâm chiếm trọn vẹn đầu óc tôi khiến tôi trở nên tê liệt. Tôi có cảm giác mình như một hành tinh nhỏ đang bị thu hút vào quỹ đạo của một hành tinh khác lớn hơn. Đầu óc của tôi trở nên hoang mang vô định, tôi thấy mình từ từ tan biến vào một cõi không thể diễn tả được. Ngay lúc đó, tôi đã nghĩ nếu không tìm cách cưỡng lại, tâm trí tôi có thể biến mất vĩnh viễn. Vừa chớm lên ý niệm đó, tôi đâm ra hoảng hốt, và chỉ trong khoảnh khắc bản ngã trỗi dậy. Tôi vùng vẫy nhảy khỏi giường, cố thoát khỏi luồng sức mạnh kia. Chưa bao giờ tôi thấy mình có thể tan biến vào trong cái gì uyên nguyên, rỗng lặng đến vậy. Tôi cuống quít vớ lấy tấm gương vẫn dùng để soi mặt cạo râu và nhìn vào mình trong đó. Tôi có còn là tôi hay không? Để chứng minh mình vẫn còn là mình, tôi chụp lấy tập giấy ở đầu giường và vẽ ngay một bức tự họa.

Mặc dù nhiệt độ trong phòng lạnh như băng, mồ hôi tôi toát ra đầm đìa. Khi vẽ xong bức tự họa, sức mạnh kia tự nhiên biến mất. Tôi ngồi yên một lúc như xuất thần rồi lẩm bẩm đọc những bài chú tịnh tâm cho đến sáng.

Sáng hôm sau dù vẫn còn xúc động, tôi cũng thay y phục chỉnh tề để ra mắt sư trưởng Lachen. Đó là một ông lão đã già lắm nhưng khuôn mặt hồng hào quắc thước đang ngồi trên tấm thảm bện bằng rơm. Sư trưởng Lachen mời tôi dùng trà, thân mật hỏi tôi từ đâu đến và có mục đích gì. Khi biết tôi là đệ tử của Hòa thượng Tomo đã viên tịch thì ngài gật đầu:

– Thầy con là một bậc chân tu đạo hạnh, một bậc Đại Lạt Ma mà ta rất kính phục.

Tôi đưa cho ngài xem pho tượng nhỏ mà Hòa thượng Tomo đã trao cho tôi như một tín vật. Ngài thận trọng cầm nó đưa lên trán ba lần bằng một cử chỉ tôn kính. Tôi kể cho ngài nghe việc những cuốn sách của bà Alexandra David–Néel đã trợ giúp rất nhiều người Âu chúng tôi trong việc tìm hiểu nên văn minh Tây Tạng. Khuôn mặt của ngài trở nên rạng rỡ khi nghe nhắc đến bà David–Néel. Ngài mở một chiếc hòm gỗ gần đó và lấy ra một tờ báo cũ nát có nói về cuộc du hành của người phụ nữ này. Chúng tôi tiếp tục đàm đạo một lúc rất lâu. Khi biết tôi xuất thân từ Sri Lanka, ngài bật cười chỉ vào mớ tóc dài bù xù trên đầu rồi khôi hài:

– Nếu các tu sĩ Nam Tông nhìn thấy tôi thì họ nghĩ sao?

Tôi cũng bật cười:

– Ngay như đức Phật cũng đâu có cạo hết tóc thì Ngài vẫn thành đạo kia mà.

– Con nói đúng đó, nhiều người chỉ biết kính trọng những hình thức bên ngoài chứ không hiểu được giá trị thực sự của người tu hành là chiến thắng chính mình và giữ sao cho thân, tâm được an tĩnh.

Chúng tôi tiếp tục nói về những phương pháp tu tập, quán tưởng, thiền định và đã có lúc tôi định hỏi ngài về câu chuyện xảy ra đêm qua nhưng rồi lại ngại ngùng. Cái cảm giác bị tan biến trong hư không làm tôi sợ hãi ít nhiều nên không muốn nhắc đến nó nữa. Sau cùng tôi mở cuốn sách nhỏ vẫn mang theo bên người nhờ ngài viết cho ít lời chỉ dẫn để làm kỷ niệm.

Ngài mỉm cười chăm chú nhìn tôi và nói rằng ngài đã già yếu, tay chân run lẩy bẩy không thể viết được nữa, nhưng rồi ngài vẫn cầm lấy bút và thảo ngay một bài trường thi bằng tiếng Tây Tạng.

– Đây là đề tài để con suy gẫm mỗi khi thiền định. Đề tài này đề cập đến mười tám phương pháp quán tưởng về tánh Không.

Tôi bỗng giật mình. Thì ra ngài biết rõ chuyện xảy ra đêm hôm trước. Trong khoảnh khắc tôi hiểu ngay rằng ngài đã cố ý hướng dẫn cho tôi kinh nghiệm về tánh Không nhưng tôi chưa đủ trí tuệ để hòa nhập vào cái Không hải rỗng lặng uyên nguyên kia. Công phu thiền quán của tôi còn nhiều thiếu sót, bản ngã của tôi còn mạnh nên chưa chịu tiêu dung vào hư không để bước vào cảnh giới không vô biên xứ(19).

19 Tức hư không không có biên giới, là một cấp độ trong khái niệm định của tu hành bậc cao, lấy yếu tố không trong sáu đại định là địa, thủy, hỏa, phong, không và thức làm đối tượng nghiên cứu và tu tập.

Thấy tôi có vẻ ngượng ngùng, sư trưởng Lachen mỉm cười:

– Một công phu tu tập siêng năng chưa đủ mà còn phải chú trọng việc mở mang trí tuệ nữa. Con cần trì tụng chú Đại bi và bộ Bát Nhã Ba La Mật để suy ngẫm về tánh Không cho thật thấu đáo thì mới mong có thể tiến bộ thêm được.

Tôi cúi đầu cảm ơn lời chỉ bảo của ngài, quả thật tôi rất chăm chỉ thực hành các nghi thức, nhưng chưa đạt được đến trạng thái ung dung tự tại của các bậc tu chứng đã thực sự kinh nghiệm được tánh Không. Cho đến nay, mỗi khi nhớ lại cái kinh nghiệm lạ lùng trên đỉnh Thangu, tôi không khỏi thầm biết ơn ngài đã chỉ điểm cho tôi thấy rằng cái bản ngã mà ta tưởng đã diệt được nó qua công phu tu hành thực sự vẫn còn rất mạnh, và chỉ khi thực sự kinh nghiệm được tính Không, kẻ tu hành mới có thể bước vào thế giới bao la rộng rãi của những cảnh giới bất khả tư nghị – phải giác ngộ rồi mới hiểu được chứ không thể dùng lý luận thông thường khi chưa nắm rõ để giải thích.

Sau dịp đó, tôi không bao giờ gặp lại sư trưởng Gompa nữa, vì chẳng bao lâu thì ngài cũng theo bước thầy Tomo của tôi. Nhưng cũng từ đó, tôi nghiệm ra rằng chỉ khi ý thức thực sự được tính chất vô ngã của mình thì người tu mới có thể tiến bộ trên con đường tu đạo. Các phương pháp thiền định tuy cũng cao siêu, cũng giúp các hành giả lên được cảnh trời, nhưng vì cái “ngã” còn đó nên dù là tiểu ngã hay đại ngã thì vẫn cứ còn những chướng ngại ràng buộc, khiến người tu không sao vượt lên cao hơn nữa. Tuy trụ ở các cảnh trời hưởng phước một thời gian, khi các phước báu này tiêu tan thì họ lại sa đọa trở lại vào vòng luân hồi sinh tử. Một người tu khi đã đến sát bờ phải biết dùng trí tuệ để vượt lên, vượt qua, chiến thắng mọi chướng ngại cuối cùng để qua đến “bờ bên kia”, vì nếu không thì họ vẫn chỉ chơi vơi giữa dòng, lúc chìm đắm khi nổi trôi chứ không sao đạt được đến thực tại cuối cùng.

***

Sau khi từ giã sư trưởng Lachen, chúng tôi dừng chân tại Sikkim và ghé vào tu viện Phodong nơi bà Alexandra David–Néel đã từng tu. Vị Lạt Ma trụ trì mời tôi nghỉ trong căn phòng mà trước đó ít năm bà David–Néel đã trú ngụ. Chính tại căn phòng này mà khi tiểu vương Sidkeong Tulku Namgyal đến viếng, bà David–Néel đã nghe thấy một tiếng nói cảnh báo ông về cuộc “cải cách xã hội” đang được thi hành lúc đó.

Tiểu vương là người theo Tây học, đã từng nhiều năm du học ở châu Âu. Chính vì thế, khi về nước ông chủ trương Âu hóa và triệt để bài trừ những điều mà ông cho là cổ hủ, lỗi thời. Ông ra lệnh đóng cửa chùa chiền, bắt giam các tu sĩ, cấm dân chúng thực hành các nghi thức tôn giáo cổ truyền. Ông tin rằng khoa học, lý luận và một nền giáo dục rập khuôn phương Tây mới là con đường đưa xứ sở ông trở nên văn minh, tiến bộ hơn.

Nhưng rồi cuộc cải cách xã hội của ngài thất bại sau đó vì gặp phải sự chống đối mãnh liệt của dân chúng. Tiểu vương Tashi Namgyal, em ruột của Sidkeong Tulku Namgyal, sau đó nối nghiệp và thay đổi chính sách này bằng một đường lối ôn hòa hơn. Ông khuyến khích việc bảo tồn truyền thống, đề cao các giá trị sẵn có và thay đổi các tập tục mê tín dị đoan bằng việc giáo dục các tu sĩ qua các đại học Phật giáo. Nhờ vậy xứ Sikkim trở nên một trung tâm Phật giáo quan trọng. Trong thời gian du lịch tại đây, tôi đã sưu tầm được rất nhiều bộ sách cổ giá trị. Tại những ngôi đền, chùa chiền ghé qua, tôi đều họa lại rất nhiều hình vẽ, các chủng tự huyền bí và thu thập được nhiều tài liệu viết tay từ thế kỷ thứ mười bốn.

Biết tôi là một học giả đã biên soạn nhiều sách vở về Phật giáo, tiểu vương Tashi Namgyal bấy giờ đã ra lệnh cho các tăng ni nơi đây giúp đỡ tận tình. Ông còn truyền lệnh cho nhà quý tộc Entsche Kasi phải lo liệu, giúp đỡ tôi thật chu đáo. Từ việc cung cấp lương thực đi đường đến việc lo lừa ngựa di chuyển để hướng dẫn tôi đi khắp các chùa chiền, di tích lịch sử trong vùng.

Entsche Kasi là một tín đồ Phật giáo thuần thành, dòng họ của ông sở hữu rất nhiều đất đai và từ nhiều đời trước tổ tiên họ đã cho xây cất nhiều đền chùa, tu viện khắp xứ. Tôi sống với gia đình Kasi hơn một tháng và họ đối đãi với tôi như người nhà. Tôi được biết gia đình này đã giúp đỡ và trợ cấp cho hàng trăm tu sĩ để họ yên tâm tu học. Phần lớn gia đình người dân xứ này đều trông cậy vào những người con trai buôn bán, canh tác, chăn nuôi, nhưng nếu những người này muốn từ bỏ gia đình để trở nên một tu sĩ thì gia đình đó ắt phải chịu các thiệt thòi vật chất. Entsche Kasi đã chu cấp tất cả cho những gia đình này để họ yên tâm và khuyến khích con cái tu học. Chính tại đây, tôi được biết rằng Lạt Ma Yongden cũng đã được nuôi dưỡng, tài trợ bởi gia đình này. Trong khi du hành, bà Alexandra David–Néel đã từng tạm trú nơi đây, bà đã nhận Yongden làm nghĩa tử và cùng ông này du hành khắp Tây Tạng. Công trình nghiên cứu của bà David–Néel và Lạt Ma Yongden đã giúp cho hàng triệu người khắp thế giới biết đến Tây Tạng và gia đình Kasi đã đóng một vai trò quan trong quá trình ấy.

Trước khi rời Sikkim, tôi viết thư cảm ơn tiểu vương Tashi Namgyal về tấm thịnh tình ngài đã dành cho tôi. Nhà vua cho người triệu tôi đến dùng cơm riêng với ngài, một hân hạnh mà tôi không thể từ chối.

Đó là một buổi chiều êm ả, tiếng ve sầu ngân nga vang lừng khu thượng uyển. Chúng tôi ngồi trên một hàng hiên cao nhìn về những rặng đồi thấp rải quanh xứ Sikkim. Câu chuyện xoay quanh vấn đề tôn giáo, triết học, xã hội rồi chuyển qua các đề tài như kinh tế, thương mại, giao thông,...

Tôi chỉ lên ngọn đồi gần đó, nơi hàng đêm vẫn có thể nhìn thấy những vệt sáng mà tôi nghĩ là đèn thắp sáng trên đồi để mọi người qua lại được tỏ tường:

– Tôi không thể ngờ ngài cho thiết lập cả một trục đèn xuyên qua ngọn đồi kia, ắt hẳn tốn kém lắm nhỉ.

Tashi Namgyal ngạc nhiên:

– Nhưng làm gì có dãy đèn nào trên ngọn đồi đó, con đường giao thông duy nhất từ Ấn qua đây là con đường dọc theo sông Teesta thôi.

– Nhưng tôi nhìn thấy rất nhiều vệt sáng như đèn đường soi rõ dọc theo những ngọn đồi mà...

Tashi Namgyal mỉm cười nói nhỏ:

– Không phải thế đâu! Có rất nhiều hiện tượng lạ lùng xảy ra quanh đây nhưng dĩ nhiên tôi không bao giờ muốn nói cho những người ngoài biết, vì họ có thể cho rằng tôi là người mê tín dị đoan hay trông gà hóa cuốc. Tuy nhiên ngài đã nhìn thấy thì tôi cũng có thể cho ngài biết rằng ngọn đồi đó có vị trí hết sức hiểm trở, qua lại rất khó khăn, muốn di chuyển về đêm phải hết sức cẩn thận và chậm, trong khi những luồng ánh sáng đó trông như đang chuyển động rất nhanh, thậm chí có thể đổi vị trí hay hướng đi trong chớp mắt. Có lần chúng lao thẳng vào cung điện của tôi rồi bất chợt chuyển hướng quay ngược lại, không một phi cơ nào có thể chuyển hướng 360 độ trong một thời gian kỷ lục như vậy. Chúng lướt trên không trung một cách dễ dàng như những đốm lửa khổng lồ, dân chúng xứ tôi tin rằng đó là những vị thần linh tu luyện trên Tuyết Sơn đang dạo chơi... Tôi không biết phải giải thích như thế nào nhưng tôi biết chắc rằng đây là một hiện tượng mà khoa học không thể giải thích được.

Tôi im lặng kính phục sự thành thực của vị tiểu vương trẻ tuổi. Có lẽ vì không giải thích được những sự kiện này một cách chính xác, rõ rệt nên người dân xứ này đã giải thích nó bằng những quan niệm về thần linh và chấp nhận nó như một sự hiển nhiên. Điều này khác hẳn với lối giải thích của người phương Tây chúng tôi. Nếu không thể giải thích, họ phủ nhận ngay rằng điều đó không có thật. Nếu đầu óc lý luận, khoa học không thể chấp nhận hoặc chưa giải thích được, họ liền lên án đó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Nhưng khoa học giải thích thế nào về đời sống? Tại sao khoa học lại có những điểm dường như tương phản với những sự kiện xảy ra trong đời sống như vậy? Nếu tư tưởng con người chỉ là những luồng điện chạy trong thần kinh qua phản ứng hóa học và điện học thì người ta giải thích thế nào về hiện tượng thần giao cách cảm, khi tư tưởng được phóng ra không trung và chuyển tới một người khác? Khoa học đã biết gì về điện lực hay họ chỉ dựa trên một số định luật và các phản ứng của nó để đưa ra một khái niệm trừu tượng, thứ họ có thể sử dụng nhưng không thể hiểu đích thực nó là gì? Sự sống không hề phân biệt một nhà thông thái hay một bác nông phu, vì sống không phải là một cái gì bất động, tuân theo các định luật khoa học mà là một cái gì sống động trong thân thể, tư tưởng, tình cảm con người.

Hiện tượng những vệt sáng di chuyển nơi đây thực ra đã từng xảy ra ở nhiều nơi khác trên thế giới, thậm chí những ghi nhận và mô tả cũng không khác nhau là bao. Dĩ nhiên có kẻ tin, người không tin và có nhiều thêu dệt những sự kiện hoang đường lạ lùng đi kèm theo. Chỉ biết điều này không phải mãi đến thế kỷ hai mươi mới xảy ra. Các tài liệu lịch sử đã nói về những đốm lửa bay nhảy trên không gian từ nhiều thế kỷ trước tây lịch.

Hiện tượng này được ghi nhận xảy ra nhiều nhất tại Ngũ Đài Sơn bên Trung Hoa. Phía nam rặng Ngũ Đài Sơn người ta đã xây một cái tháp khá cao để khách hành hương có thể nhìn thấy rõ phong cảnh quanh đó. Nhưng thật ra ngọn tháp này được sử dụng để chiêm ngưỡng những vệt sáng thường di chuyển quanh những đỉnh núi này mà người ta gọi là những đốm lửa thiêng.

Học giả John Blofeld(20) đã bỏ ra hơn một năm trời sống tại đây để nghiên cứu về hiện tượng lạ lùng này. Ông viết trong cuốn “Ngọc sáng trong hoa sen” (The Wheel of Life)(21) như sau:

20 & 21 Học giả nổi tiếng người Anh, một trong những người châu Âu tiên phong tìm hiểu và truyền bá triết lý phương Đông vào phương Tây. Cuốn “Ngọc sáng trong hoa sen” (The Wheel of Life) của ông, do dịch giả Nguyên Phong phóng tác đã được First News cho ra mắt năm 2011.

“[…] Thật khó có thể diễn tả cảm tưởng kỳ lạ của chúng tôi khi đó. Việc sẽ được nhìn thấy đức Bồ Tát làm chúng tôi nao nức không thể ngủ được. Hôm sau chúng tôi đi xem xét phong cảnh quanh chùa. Ngôi chùa rất nhỏ, bày trí giản dị không có gì đặc biệt khác thường. Số tăng sĩ tu tại đây có khoảng mươi người, đa số đều lớn tuổi, sống tự túc bằng cách trồng trọt. Suốt ngày hôm đó chúng tôi cứ nao nức mãi cho đến khoảng nửa khuya đang ngồi đàm đạo với vị trụ trì trong chánh điện thì một vị tăng cầm đèn lồng bước vào nói nhỏ:

– Bạch sư phụ, đức Bồ Tát vừa xuất hiện.

Chúng tôi vội vã theo chân vị tăng đó leo lên ngọn tháp sau chùa. Một hiện tượng kỳ lạ diễn ra, hàng trăm quả cầu lửa đang bay lượn trên đỉnh những rặng núi chung quanh đó. Vì khoảng cách khá xa nên tôi không thể phỏng đoán kích thước hay vận tốc của chúng nhưng hiển nhiên chúng phải rất lớn. Những quả cầu lửa đó từ đâu đến? Tại sao chúng lại bay lượn một cách kỳ lạ như vậy? Giữa không trung, những quả cầu lửa di chuyển nhẹ nhàng, lúc xoay bên phải, khi xoay bên trái, có lúc lơ lửng, đổi từ màu sắc này qua màu sắc khác. Trong khi mọi người trong đoàn hành hương trợn mắt ra theo dõi thì các tăng sĩ thản nhiên ngồi xếp bằng cầu nguyện. Tôi đứng yên quan sát hiện tượng huyền bí kéo dài suốt mấy tiếng đồng hồ này cho đến khi chúng từ từ biến mất. Tôi không biết phải giải thích việc này như thế nào[…]”.

Những điều huyền bí quả thực khơi gợi trí tò mò tìm hiểu của con người. Nhưng đồng thời, đó cũng là cái cớ để những kẻ tu hành tự định lại sự tồn tại của cái ngã trong chính mình. Hành trình tu tập của tôi hẳn còn dài lắm.

Hết chương
Chương trướcChương sau
Mục lục