Chương 4: POKEY VÀ BÀI KIỂM TRA ĐÁNH VẦN
POKEY VÀ BÀI KIỂM TRA ĐÁNH VẦN
Pokey and the Spelling Test
POKEY VÀ BÀI KIỂM TRA
ĐÁNH VẦN
One Monday, Pokey sat in class watching Ms. Hoot write six words on the blackboard:
play fun have for you drum
“These words will be on Friday’s spelling test,” said Ms. Hoot. “Be sure you study every night, and then you’ll spell these words just right!”
After school, Pokey went home and took a nap.
Ding–dong! Someone was at the door. It was Sammy.
“Hiya, Pokey,” said Sammy. “Do you want to go to the dump and look for some gadgets?”
Một buổi sáng thứ Hai nọ, cô Hoot – cô giáo của Pokey – viết lên bảng sáu chữ: play (chơi), fun (vui vẻ), have (có), for (dành cho), you (bạn), drum (trống).
– Những chữ này sẽ nằm trong bài kiểm tra đánh vần thứ Sáu này nhé các con – cô Hoot nói – Nếu tối nào các con cũng chăm chỉ học thì các con sẽ đánh vần được chính xác thôi.
Sau khi tan trường, Pokey đi thẳng về nhà và ngủ một giấc.
Tính–toong! Có ai đó gọi cửa – thì ra đó là Sammy.
– Chào Pokey – Sammy nói – Cậu có muốn ra bãi phế liệu tìm thiết bị với mình không?
Pokey knew he should study, but going to the dump sounded like more fun.
“Sure,” said Pokey.
Trong lòng Pokey biết mình phải học bài, nhưng nghĩ lại thì đi bãi phế liệu vui hơn nhiều. “Được thôi,” Pokey đáp.
When they got there, Pokey saw an old drum. He thumped it lightly.
Dum–dum–duuuuuum–dum.
“Awesome!” said Pokey. He carried the drum home. He played it for the rest of the afternoon.
Ở bãi phế liệu, Pokey tìm thấy một cái trống cũ. Cậu gõ nhẹ vào mặt trống.
Thùng–thùngggg–thùngggg–thùng.
– Tuyệt cú mèo! – Pokey reo lên. Cậu mang cái trống về nhà rồi chơi với nó suốt cả buổi chiều.
On Tuesday, Lily Skunk and Tagalong Allie stopped by Pokey’s house.
“Allie and I just made some chocolate–chip cookies. They’re sooooo yummy,“ said Lily.
“Wanna twy thum?” said Allie.
“What?” said Pokey.
“Do you wanna try some?” said Lily.
“I have to study for my spelling test,” said Pokey. “But … I guess I can do that later.” So off he went to Lily’s house.
Ngày tiếp theo là thứ Ba. Chồn Lily và Allie–Bám–Đuôi ghé chơi nhà Pokey.
– Allie với mình vừa làm một ít bánh quy hạt sô–cô–la này. Ngooooon cực kỳ luôn – Lily khoe với Pokey.
– Cậu có mún ăng hử hông? – Allie tiếp lời.
– Cậu nói gì? – Pokey không hiểu.
– Cậu muốn ăn thử không? – Lily nói.
– Mình còn phải học bài cho kỳ kiểm tra đánh vần sắp tới – Pokey chần chừ – Nhưng mà... Chắc để sau cũng được.
Thế là cậu lên đường đến nhà Lily.
When Pokey got back, he played his drum. Then he played his harmonica. Then he fell asleep.
Khi về nhà, Pokey lại chơi trống một lúc, rồi chuyển sang nghịch kèn harmonica. Nghịch chán, cậu bèn lăn ra ngủ.
On Wednesday afternoon, Pokey went on a butterfly hunt with Goob.
Đến chiều thứ Tư, Pokey lại đi bắt bướm với Goob.
And on Thursday afternoon, he took a bicycle ride with Jumper.
Và chiều thứ Năm cậu đi đạp xe với Jumper.
When he got home, he remembered that the spelling test was the next day and he hadn’t studied even one word. He took out his spelling cards. He taped them to the wall.
play fun have for you drum
Đến khi về nhà, Pokey mới nhớ ra ngày mai chính là ngày có bài kiểm tra đánh vần, mà cậu ấy thì chưa học lấy một chữ! Khi đó Pokey mới bắt đầu lấy các thẻ học từ ra và dán lên tường.
Pokey tried to write them down, but the letters swam in front of him like fish.
Pokey cố gắng viết chúng thật chính xác, nhưng những chữ cái cứ bơi lượn trước mặt cậu ấy như cá vậy.
There were too many words to learn in just one night. The more Pokey tried to memorize them, the more confused he got. He finally gave up and went to sleep.
The next day, Pokey failed the test. He spelled every word wrong except for drum.
“ What happened?” asked Ms. Hoot. “Didn’t you study? I know you could have done better.”
Quá nhiều chữ phải học, trong một đêm Pokey không thể nào học xuể. Cậu càng cố nhớ thì đầu óc càng bị rối. Cuối cùng, cậu đành bỏ cuộc và lên giường đi ngủ.
Sáng hôm sau, quả nhiên Pokey đã không làm bài tốt. Cậu đánh vần sai hết tất cả các chữ, trừ chữ Trống.
– Sao vậy, Pokey? – Cô Hoot hỏi – Em không học bài sao? Vì cô biết khả năng của em hơn thế này nhiều.
“I kept finding other things to do,” said Pokey.
Sophie was standing nearby. “You shouldn’t procrastinate,” she said.
“Huh?” said Pokey.
“I mean, you should have put first things first,” said Sophie. “Done your homework first, then had fun later.”
Ms. Hoot agreed. She told Pokey he could take the test again next Friday.
“And this time, don’t wing it!” she said.
– Em cứ bị xao nhãng bởi các việc khác, thưa cô – Pokey giãi bày. Sophie đang đứng gần đó liền góp ý. – Cậu không nên trì hoãn mọi việc như thế – cô bé nói.
– Cậu bảo gì cơ? – Pokey hỏi.
– Ý mình là việc gì phải làm thì cậu nên làm – Sophie giải thích – Đáng lẽ cậu nên làm bài tập trước rồi mới chơi gì thì chơi.
Cô Hoot cũng đồng tình với lời khuyên đó. Cô nói với Pokey rằng cậu ấy có thể làm lại bài kiểm tra vào thứ Sáu tới.
– Mà lần này em đừng làm đại đấy nhé! – Cô dặn.
Pokey went home. He looked at his new drum.
Dum–dum–duuuuuuum–dum he heard in his head.
He looked at his spelling words.
Hôm đó khi về nhà, Pokey nhìn chiếc trống mới của mình và bên tai cậu như đang nghe thấy âm thanh náo nhiệt của nó. Thùng–thùngggg–thùngggg–thùng.
Rồi cậu nhìn sang các thẻ từ.
Ding–dong. Someone was at the door. It was Sophie. “I came to help you study,” she said.
They worked for a whole hour without stopping once.
Tính–toong. Có người gõ cửa, là Sophie. – Mình sang giúp cậu học đây – Sophie nói. Thế rồi họ cùng nhau học suốt một tiếng đồng hồ không nghỉ.
Ding–dong. Someone else was at the door. It was Jumper.
“Wanna play baseball?” he said.
“Can’t, Jumper,” said Pokey. “I’m studying.”
“You’re what?”
“Studying,” said Pokey.
“That’s cool,” said Jumper.
“Catch you another time.” And off he ran.
Tính–toong. Lại có người gõ cửa, là Jumper.
– Chơi bóng chày không, bạn hiền? – Cậu hào hứng rủ.
– Không được Jumper ơi – Pokey tiếc nuối đáp – Mình đang bận học.
– Cậu bận làm gì cơ?
– Học – Pokey lặp lại.
– Hay nhỉ – Jumper nói – Thế lần khác chơi nhé. – Nói rồi, Jumper vội vàng chạy đi.
Pokey studied a little bit each day. On Friday, he took the test again.
“Fur and feathers!” said Ms. Hoot. “You got a perfect score!”
Pokey’s quills poked out all over! He wanted to thank Sophie. He went home and got his drum. He took it to her house and left it with a note.
Từ đó đến thứ Sáu, mỗi ngày Pokey lại học một chút. Rồi ngày làm kiểm tra lại cũng đến.
– Ôi thần linh các loài chim ơi – cô Hoot reo lên – Em làm đúng hết rồi!
Nghe vậy, những sợi gai của Pokey liền dựng đứng cả lên! Rồi Pokey muốn cảm ơn Sophie đã giúp mình học, nên khi về nhà, cậu liền lấy cái trống của mình ra và mang sang nhà Sophie kèm theo một tấm thiệp.
PARENTS’ CORNER - GÓC PHỤ HUYNH
Habit 3—Put First Things First • Work First, Then Play
It’s funny how kids will spend thirty minutes complaining about their chores, not realizing they could have completed them in the same amount of time they spent complaining. Go figure. Indeed, putting first things first is hard. In fact, of all the habits, it’s the hardest one to keep. Why? Because we’re all somewhat addicted to doing the urgent thing or the easier thing first. Yet if we don’t teach our kids to delay gratification and do the hard thing (or first thing) first while they are young, they may learn too late or not at all. In this story, be sure to point out how awful it can feel when you procrastinate and put things off, like when Pokey crammed the night before the test. Contrast that with how good it feels when you are prepared. As a wise person once put it, “Do what you have to do so you can do what you want to do.”
Thói Quen thứ 3: Ưu Tiên Những Thứ Cần Ưu Tiên
• Làm việc trước, chơi sau
Mỗi lần phải làm việc nhà, bọn trẻ con đứa nào cũng thở ngắn than dài hết cả nửa tiếng đồng hồ mà không nhận ra rằng trong thời gian ấy, chúng đã có thể làm xong hết việc rồi. Buồn cười nhỉ, nhưng không lạ. Quả thật việc ưu tiên những điều cần ưu tiên là rất khó, nếu không nói là thói quen khó nhất để luyện thành. Đó là vì chúng ta thường bị “nghiện” làm những việc gấp hoặc dễ dàng trước.
Nhưng nếu chúng ta không tập cho con cái mình cách hoãn hứng thú lại để làm việc khó (hoặc việc ưu tiên) trước từ khi còn bé, có thể con bạn sẽ phải tự học khi đã lớn, hoặc có thể sẽ chẳng bao giờ học được. Trong câu chuyện vừa rồi, bạn nhớ chỉ cho bé thấy khi ta trì hoãn trách nhiệm của mình, hậu quả sẽ tệ thế nào. Như lúc Pokey phải học gấp ngay trước ngày kiểm tra vậy đó. Hãy chỉ cho bé thấy rằng cảm giác tồi tệ đó trái ngược thế nào với cảm giác tuyệt vời khi mình đã chuẩn bị sẵn sàng. Một nhà thông thái đã nói: “Hãy làm những việc mình cần làm trước để có thời gian làm những việc mình muốn làm”.
Up for Discussion
1. Why did Pokey put off studying for his spelling test? What did he do instead?
2. How did Pokey feel the night before the first test?
3. What does procrastinate mean? What did Sophie teach Pokey about procrastination?
4. How did Pokey feel after he studied all week and aced his spelling test?
5. Why is it so important to put first things first?
Baby Steps
1. What are some of your most important jobs or responsibilities? Practicing the piano? Making your bed? Doing your homework? Taking out the garbage? Talk about them with your mom or dad.
2. Tomorrow surprise your parents and do your chores before they even ask.
3. The next time you have a lot of homework to do, do the hardest part first.
4. Think of something you’ve been putting off for a long time, like cleaning up your room, pumping up that tire on your bike, or fixing that broken dresser drawer. Go do it right now!
CÙNG CON THẢO LUẬN
1. Tại sao Pokey lại hoãn việc học bài cho kỳ kiểm tra đánh vần? Và Pokey đã làm gì vào thời gian không học bài đó?
2. Vào đêm trước kỳ kiểm tra, Pokey đã cảm thấy thế nào?
3. Trì hoãn có nghĩa là gì? Sophie đã dạy Pokey thế nào về việc trì hoãn?
4. Sau khi chăm chỉ học cả tuần và làm đúng hết bài kiểm tra, Pokey đã cảm thấy thế nào?
5. Tại sao việc ưu tiên những điều cần ưu tiên lại quan trọng?
TỪNG BƯỚC DẠY CON
1. Con có những việc quan trọng nhất hoặc trách nhiệm nào phải hoàn thành không? Có thể là tập đàn dương cầm, dọn giường hoặc làm bài tập hay đổ rác giúp cả nhà chẳng hạn. Con hãy bàn về những việc đó với bố mẹ nhé.
2. Ngày mai, con hãy tặng bố mẹ một bất ngờ bằng cách làm phần việc nhà của mình trước khi bị nhắc thử xem.
3. Lần sau khi con có bài tập về nhà, con hãy bắt đầu làm từ phần khó nhất.
4. Con thử nghĩ xem, có việc nào con đã trì hoãn từ lâu rồi không? Có thể là dọn phòng, bơm lại bánh xe đạp hoặc có thể là sửa cái ngăn kéo bị hỏng chẳng hạn. Giờ con hãy làm ngay nào!